Sự thật về năm 1937 ở Liên Xô - Juri Zhukov
Sự thật về năm 1937 ở Liên Xô - Juri Zhukov 1
Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhiều sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng ở Nga và phương Tây thường nhắc tới năm 1937-1938 như một thời điểm khủng khiếp nhất trong lịch sử Liên Xô, khi “hàng chục triệu người vô tội” đã trở thành nạn nhân của những cuộc đàn áp đại trà, đã bị sát hại như “những kẻ thù của nhân dân”, dường như theo chỉ thị của “kẻ độc tài Stalin” vốn hành động chỉ cốt để “củng cố quyền lực cá nhân và trừng trị các đối thủ”. Nhiều con số được dẫn ra, nhiều số phận của những con người cụ thể được kể lại. Song người ta hoặc vô tình hay cố ý bỏ qua một số điểm rất quan trọng là thực chất của những cuộc trấn áp đó, chúng đã diễn ra trong hoàn cảnh nào, những sự kiện gì ở trong và ngoài nước đã ảnh hưởng tới tình hình ấy và liệu những kết luận được rút ra đã thật khách quan và chính xác chưa? Đó là những vấn đề đang thu hút sự chú ý của các nhà sử học nói riêng và của tất cả những ai quan tâm đến lịch sử nước Nga - Xô viết nói chung. Nhân đây, chúng tôi xin giới thiệu cuộc trao đổi thẳng thắn chung quanh những vấn đề này giữa nhà sử học nổi tiếng Juri Zhukov và bình luận viên Vladimir Sukhomlinov của tờ Literaturnaja Gazeta (Báo Văn) diễn ra trong tháng 7 vừa qua.
__________
* Cách đây hơn 30 năm, tôi, lúc đó là một nhà báo trẻ tuổi, đã đàm đạo với Parubok, một phi công thử nghiệm đã lớn tuổi, và chúng tôi cũng nói về năm 1937. Tôi hỏi hồi đó ông ấy ở đâu. Parubok cho biết ông ấy đã sống trong một ngôi làng gần thành phố Kiev. Trong làng đã lại vang lên bài ca tiếng hát. Nạn đói đã qua rồi! “Mọi người uống rượu say sưa vì phấn chấn”. Và ông ấy, đối với câu hỏi của tôi qua điện thoại là mọi người đã đón nhận nửa sau của những năm 30 như thế nào, bèn đáp: “Với niềm hân hoan”. Có vẻ như những điều đó chẳng ăn nhập gì cả...
– Điều đó là bình thường! Bởi lẽ, cho đến nay, chúng ta là một đất nước có lịch sử được huyền thoại hóa về nhiều mặt. Những sự kiện quan trọng đôi khi bị đẩy xuống hàng thứ yếu, còn những sự kiện đập vào mắt hay có lợi về mặt chính trị cho các nhà cầm quyền thì được thổi phồng, được cường điệu hóa. Song cần phải ngắm nhìn bức tranh với tất cả các màu sắc. Hiện nay, đối tượng nào bị chỉ trích là chủ yếu đối với bất kỳ một phái đối lập cũng như đối với tất cả mọi người? Đó là quan chức. Lớp người này tuồng như không phải là cộng sản, không phải là bônsêvích. Song tất cả những ai thuộc cánh tả lẫn cánh hữu, kể cả những vị ngồi trong điện Kremli, đều gặp nhau ở một điểm: quan chức - ấy là tai họa cho đất nước! Và vào những năm 1937-1938, khi xảy ra những vụ bắt bớ các quan chức, thì đó trước hết là cú đòn giáng vào lớp người có chức quyền này.
* Gần 500 ngàn quan chức thuộc đủ mọi cấp bậc (trước hết là các cán bộ đảng) bị cách chức và bị trừng trị.
– Đúng thế... Và tất cả mọi người đều lấy làm vui mừng, hởi lòng hởi dạ. Quả là có hai sự việc gắn bó mật thiết với nhau: bọn quan chức bị ăn đòn và việc công bố bản Hiến pháp năm 1936 vốn được gọi là Hiến pháp Stalin. Tại kho lưu trữ, tôi đã cầm trên tay những trang bản thảo Hiến pháp và thấy rằng một số điều quan trọng nhất được đích thân Stalin chấp bút. Và mọi người có được bộ luật cơ bản và hay rằng những kẻ từng đè đầu cưỡi cổ và nhạo báng họ đã bị sa thải và bị tống giam. Và mọi người phấn khởi cất tiếng hát.
Bản Hiến pháp trước đây (được soạn thảo vào năm 1923) bao gồm hai phần. Trong lời mở đầu có nói rõ: thế giới được chia thành hai phe đối địch - phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Hai phe này tất yếu sẽ đấu tranh với nhau và mọi người đều thấy rõ ai sẽ thắng. Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết ra đời. Phần chủ yếu cũng được viết theo tinh thần của những năm 1917-1918. Theo luật định thì một bộ phận dân cư đáng kể (bộ phận này thay đổi hàng năm) rơi vào danh sách của cái gọi là những người bị tước đoạt, không có quyền bầu cử. Trước hết, nếu xét theo nguồn gốc xã hội, đó là con cái của địa chủ, hiến binh, những người có huyết thống quý tộc. Ngoài ra đó là tầng lớp phú nông (cu-lắc)...
Trong Hiến pháp mới hoàn toàn không có sự chia tách thế giới ra làm hai phe đối địch.
Ngoài ra, đảng chỉ được nhắc tới trong điều 126. Trong chương 10 nói về quyền hạn và nghĩa vụ của công dân. Chẳng hạn quyền thành lập các tổ chức xã hội mà nòng cốt có thể là một tổ chức xã hội như là đảng cộng sản. Tiếp theo là hệ thống bầu cử. Trước đây, một số người này có quyền bầu cử và ứng cử, còn một số người khác thì không có. Và cũng có sự không bình đẳng: một phiếu bầu của công nhân bằng ba phiếu của nông dân nhằm thực hiện nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Điều mang tính chất hình thức chủ nghĩa thuần túy này đã bị hủy bỏ. Giờ nói đến bản thân việc bầu cử. Theo Hiến pháp năm 1923 thì việc bầu cử được thực hiện ở ba cấp (điều này gây khó khăn cho việc tự do bầu cử) và không có sự lựa chọn.
Còn Hiến pháp năm 1936 và luật bầu cử được thông qua vào tháng 7 năm 1937 thì có gì mới?
Một là, không có bất kỳ những người bị tước đoạt nào. Trừ những người bị tòa án tước quyền công dân vì phạm tội. Hai là, quyền phổ thông đầu phiếu. Bầu trực tiếp. Mỗi người bỏ phiếu bầu một ứng cử viên cụ thể làm đại biểu Xô viết tối cao mà cả Stalin lẫn Molotov đều công khai gọi là quốc hội. Bầu bằng phiếu kín, có sự lựa chọn. Theo luật định, mỗi một ghế chí ít phải có 2-3 ứng cử viên. Chính thể lệ bầu cử này đã dẫn tới cái mà hồi đó mọi người gọi là nạn Ezhov. Còn hiện nay người ta gọi không đúng là những vụ trấn áp đại trà.
* Tại sao lại không đúng?
– Chữ “repressija” (tiếng Pháp là “repression”) có nghĩa là "sự trừng trị, biện pháp trừng phạt”. Nó không chỉ được áp dụng đối với các đối thủ chính trị mà còn bao hàm cả việc kết tội ai đó vì hành vi ngộ sát, cưỡng bức, cướp bóc, hối lộ, biển thủ... Còn hiện nay, người ta dùng thuật ngữ này để chỉ tất cả những người bị bắt giam, kể cả bọn tội phạm hình sự, những kẻ phản quốc từng phục vụ trong các đơn vị biệt kích SS vào những năm chiến tranh chống phát xít, bọn trộm cắp v.v... Tất tần tật vào cùng một bị. Giết người, cưỡng hiếp cũng là kẻ bị trấn áp, là nạn nhân của cuộc khủng bố mang tên Stalin (?!). Một thủ đoạn rất quỷ quyệt.
Được phổ biến những con số do Solzhenisyn, Razgon, Antonov - Ovsenko cung cấp. Antonov - Ovsenko trong cuốn Chân dung tên bạo chúa thông báo rằng chỉ từ năm 1935 đến năm 1940, số lượng những người bị trấn áp đã xấp xỉ 19 triệu người.
* Chừng nào tôi được biết, con số thực tế không phải là như vậy, mặc dầu cũng rất lớn. Gần 800 ngàn người bị xử bắn.
– Đúng thế. Chỉ có từng ấy người, nhưng từ năm 1921 đến tận năm 1953. Trong số đó có 681.692 người trong hai năm 1937-1938.
Solzhenisyn đã đưa ra những con số hoàn toàn viển vông. Ông ta cho rằng trong những năm dưới chính quyền Xô viết có 110 triệu người bị trấn áp. Các nhà xã hội học phương Tây trong những năm chiến tranh lạnh đã đưa ra con số 50-60 triệu người. Khi cuộc cải tổ bắt đầu, con số đó được hạ xuống còn 20 triệu người.
Ở viện nghiên cứu chúng tôi có một tiến sĩ sử học tên là Viktor Nikolaevich Zemskov. Cùng với các bạn đồng nghiệp trong một nhóm, ông đã để dành ra mấy năm để kiểm tra đi, kiểm tra lại những con số thực tế của các cuộc trấn áp được lưu giữ trong các kho lưu trữ. Chẳng hạn, những người bị xét xử theo điều 58. Và đã đi đến những kết quả cụ thể. Ở phương Tây, người ta lập tức la ó lên. Họ đã được trả lời: Đây là những tài liệu lưu trữ. Xin mời các ngài! Họ đã đến, đã kiểm tra và buộc phải đồng ý. Với những con số như sau:
Năm 1935, theo điều 58, có tất cả 267 ngàn người bị bắt và bị kết tội, trong số đó có 1.229 người bị xử bắn. Tương ứng trong năm 1936 là 274 ngàn người và 1.118 người. Tiếp đó là cao trào. Trong năm 1937, có hơn 790 ngàn người bị bắt và bị kết tội theo điều 58, hơn 353 ngàn người bị xử bắn. Trong năm 1938 - hơn 554 ngàn người bị bắt và bị kết tội, hơn 328 ngàn người bị xử bắn. Sau đó là thoái trào. Trong năm 1939 - gần 64 ngàn người bị kết tội và 2.552 người bị xử bắn. Trong năm 1940 - gần 72 ngàn người bị kết tội và 1.649 người bị xử bắn.
Tổng cộng lại, trong thời kỳ từ năm 1921 đến 1953 có 4.060.306 người bị kết tội, trong số đó 2.634.397 người bị phạt tù và bị đưa vào trại cải tạo. Chỉ còn lại một câu hỏi: tại sao đặc biệt vào năm 1937-1938 lại xảy ra những chuyện khủng khiếp thế?
* Tất nhiên rồi, điều đó khiến cho mọi người quan tâm như trước đây.
– Trước hết: ai có lỗi? Mọi người bảo: Stalin. Đúng thế. Với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, ông phải chịu trách nhiệm chính. Song tất cả những chuyện đó đã xảy ra như thế nào?
Tháng 6 năm 1937, Đại hội các Xô viết cần phải được tiến hành. Trước đó đã diễn ra Hội nghị toàn thể của UBTƯ đảng để thảo luận về luật bầu cử. Trước Hội nghị này, các bí thư thứ nhất của tỉnh ủy, khu ủy liên tục gửi điện lên TƯ xin phép được bắt các kỹ sư, các cán bộ lãnh đạo nhà máy.
Stalin lần nào cũng trả lời vắn tắt và dứt khoát: Tôi không cho phép. Nhưng sau Hội nghị toàn thể, Stalin đã đồng ý. Về việc gì? Về cái việc mà “các nhà dân chủ” của chúng ta ngày nay cố lờ đi.
Ngay sau Hội nghị TƯ vốn ủng hộ luật bầu cử mới về việc cử tri được quyền lựa chọn các ứng cử viên, những bức điện mật mã tới tấp được gửi tới Moskva. Các bí thư tỉnh ủy, khu ủy, ủy ban TƯ đảng cộng sản ở các nước cộng hòa hỏi về cái gọi là những giới hạn. Số lượng những người mà họ có thể bắt và xử bắn hoặc đưa đi phát vãng. Người hăng hái nhất trong việc này là “nạn nhân của chế độ Stalin”, Eikhe mà hồi đó giữ chức bí thư thứ nhất khu ủy miền Tây Sibiri. Ông ta xin phép bắn 10.800 người. Đứng ở hàng thứ hai là Khrushchev hồi đó đứng đầu tỉnh ủy Moskva: ông ta chỉ xin phép bắn “vẻn vẹn” 8.500 người. Đứng ở hàng thứ ba là bí thư thứ nhất khu ủy Azov - Hắc hải (nay là vùng sông Đông và Bắc Kavkaz) Evdokimov: xin phép bắn 6.640 người và đưa đi trại cải tạo gần 7 ngàn người. Các bí thư khác cũng gửi những lá đơn đăng ký đầy tính chất hiếu sát như vậy. Nhưng với những con số ít hơn. Một ngàn rưỡi, hai ngàn người...
Sau đó nửa năm, khi Khrushchev làm bí thư thứ nhất UBTƯ đảng Cộng sản Ukraina, trong một công văn khẩn đầu tiên gửi đến Moskva, ông ta xin phép bắn 20.000 người! Mà đó chỉ là lần đầu (!).
* Họ nêu lên những lý do gì để biện minh cho yêu cầu của mình?
Chỉ một lý do: họ viết rằng Bộ Dân ủy nội vụ (NKVD) vừa mới phát hiện ra một tổ chức vũ trang bí mật đang chuẩn bị nổi loạn. Như thế có nghĩa là trong những điều kiện ấy không thể tổ chức bầu cử có sự lựa chọn được. Cho đến khi nào những tổ chức dường như có tính chất mưu phản ấy bị tiêu diệt.
Có một điều cũng đáng chú ý là chuyện đó đã diễn ra ngay trong Hội nghị TƯ khi thảo luận về luật bầu cử. Không ai dám phát biểu phản đối công khai, nhưng không hiểu sao hầu như tất cả những nhân vật “hiếu sát” hàng đầu đó lặng lẽ từng người một đến gặp riêng Stalin tại phòng làm việc của ông ngay trước khi Hội nghị khai mạc. Lần thì một người, lần thì hai, ba người... Sau những cuộc viếng thăm riêng lẻ đó, Stalin đành phải đầu hàng.
Tại sao? Điều này có thể hiểu được.
Vào thời gian đó Stalin nhận thức rõ rằng Ezhov, Bộ trưởng Dân ủy nội vụ, trên thực tế không phục tùng ông.
* Không thể tin được điều đó!
– Tại sao thế? Với tư cách là nguyên bí thư thứ nhất của tỉnh ủy, Ezhov đã vào hùa với những người đồng cấp khác. Điều đó có nghĩa là: nếu Stalin khước từ những yêu sách của họ thì một ai đó trong số các ủy viên TƯ sẽ bước lên diễn đàn và tuyên bố: “Các đồng chí! Tất cả những hành vi của Stalin vào thời gian gần đây đã cho thấy rằng ông ta là kẻ xét lại, là phần tử cơ hội chủ nghĩa, ông ta đã phản bội sự nghiệp của Cách mạng Tháng Mười, đã phản bội những lời di huấn của Lênin, đã phản bội cuộc Cách mạng của chúng ta”. Và diễn giả sẽ đưa ra không phải một mà là hàng chục dẫn chứng.
* Như vậy là Stalin hoặc là đã hèn nhát vì sợ mất quyền lực hoặc là có kế sách riêng của mình. Còn có những lý do nào nữa?
– Tôi xin đưa ra mấy ví dụ. Tháng 9 năm 1934, Liên Xô gia nhập Hội quốc liên, một tổ chức mà trước đó được bộ máy tuyên truyền của chúng ta coi là công cụ của chủ nghĩa đế quốc. Tháng 5 năm 1935, Liên Xô ký hiệp ước với Pháp và Anh về phòng thủ chung trong trường hợp Đức mở cuộc xâm lược.
Tháng 1 năm 1935 có thông báo về việc xem xét lại Hiến pháp. Và sau đó ít lâu, thông qua “một nhóm đồng chí”, người ta đã biết sẽ có những thay đổi nào.
Tháng 6 năm 1935, Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ bảy, đại hội cuối cùng, chuẩn bị nhóm họp. Người lãnh đạo của tổ chức này là Georgi Dimitrov đã tuyên bố là từ nay trở đi, những người cộng sản muốn nắm chính quyền thì cần phải đạt được điều đó không phải bằng biện pháp cách mạng, mà bằng con đường dân chủ, thông qua cuộc bầu cử. Ông đề nghị thành lập mặt trận nhân dân: những người cộng sản cùng với những đảng viên đảng xã hội và những đảng viên đảng dân chủ. Bước ngoặt đó, theo quan điểm của những người Bônsêvich cứng rắn, là một tội lỗi: những người cộng sản lại đi câu kết với kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản là những nhà xã hội dân chủ.
* Cái công thức cứng nhắc: chủ nghĩa cộng sản - chủ nghĩa đế quốc đã bị phá sản.
– ... Cuối năm 1935, Stalin trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Hovard. Ông cho biết sắp sửa có Hiến pháp mới, hệ thống bầu cử mới và sẽ có cuộc đấu chọi khốc liệt giữa các ứng cử viên, bởi lẽ họ được giới thiệu không phải chỉ bởi đảng Cộng sản mà còn do bất cứ một tổ chức xã hội nào, thậm chí do một nhóm người đề nghị.
Lập tức giữa các ủy viên TƯ đã có những lời ong tiếng ve: chẳng nhẽ cả các cha đạo cũng có thể được đề cử ư? Họ liền được trả lời: Tại sao không? Cả bọn cu-lắc nữa ư? Không phải bọn cu-lắc mà là nhân dân - họ được giải thích. Tất cả những điều đó đã khiến cho những người theo phái đảng trị đâm hoang mang lo sợ.
Một bộ phận đáng kể các bí thư thứ nhất hiểu rằng họ đã làm nhiều điều xằng bậy. Một là, đã xảy ra những hành động quá trớn với quy mô cực lớn trong việc tập thể hóa. Hai là, đã có những sai lầm nghiêm trọng trong phần đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Rất nhiều bí thư đảng ủy là những người kém văn hóa. Vậy làm sao mà họ có thể giám sát được việc xây dựng những công trình công nghiệp khổng lồ. Họ ra sức chỉ đạo mà chẳng hiểu gì cả. Bởi vậy, điều đó đã làm gia tăng sự bất mãn từ phía nông dân, công nhân, kỹ sư, và bản thân họ cũng cảm nhận rõ tình hình ấy.
* Đã hình thành một đội ngũ kỹ thuật, đã có nhiều sự thay đổi, khó lòng mà che giấu được điều gì.
– Những người lãnh đạo đảng ở các địa phương sợ rằng nếu diễn ra cuộc bầu cử có lựa chọn thì cùng với họ sẽ xuất hiện thêm một vài ứng cử viên nữa. Có thể họ sẽ không trúng. Mà đã không là đại biểu Xô viết tối cao có nghĩa là ngồi chơi xơi nước chờ đến khi Ban tổ chức TƯ đảng ở Moskva sẽ nói: “Đồng chí này, nhân dân không ủng hộ đồng chí nữa. Vậy đồng chí hãy tìm một công việc nào hợp với sức mình hoặc chịu khó đi học nhé!”. Vào những năm đó Stalin đã nhiều lần nói: Không hiểu tại sao một người giữ chức vụ cao lại cho rằng cái gì mình cũng biết nhưng kỳ thật thì chẳng biết gì cả. Đó là một sự ám chỉ thẳng thừng khiến cho phái đảng trị giật mình, phải cảnh giác.
Và họ đã liên kết lại với nhau như bất kỳ một phường hội nào, buộc Stalin phải hủy bỏ từ cuộc bầu cử có lựa chọn vào năm 1937, và, xét về thực chất họ đã hạ uy tín của ông.
Người ta đã thử ngừng các cuộc trấn áp trong tháng 2 năm 1938 tại Hội nghị TƯ thường kỳ. Malenkov đã phát biểu. Trưởng ban tổ chức TƯ đã công khai phê phán những người đặc biệt hăng hái trong việc này. Ông hỏi Postyshev (trước đây công tác tại Ukraina, hiện là bí thư thứ nhất tỉnh Kuibyshev): Trong tỉnh mình, đồng chí đã lần lượt bỏ tù tất cả các cán bộ của chính quyền, của đoàn thanh niên Komsomol, của tổ chức đảng, vậy đồng chí còn định bắt giam bao nhiêu người nữa? Postyshev thản nhiên đáp: “Tôi đã, đang và sẽ còn bắt giam nữa. Đó là trách nhiệm của tôi”. Malenkov hỏi Bagirov, bí thư thứ nhất của UBTƯ đảng Cộng sản Azerbaidzhan: Tại sao đồng chí lại có thể ký lệnh bắt giam và xử bắn, song thậm chí không ghi rõ danh tính mà chỉ ghi số lượng những người bị bắt và bị xử bắn? Bagirov lặng thinh.
Stalin cần khẩn cấp sa thải Bộ trưởng Dân ủy nội vụ Ezhov là kẻ đã tiến hành những vụ trấn áp vô tiền khoáng hậu. Và cho gọi Berija từ Tbilisi là người vừa được chọn làm bí thư đảng ủy vùng Zakavkaz’e đến Moskva để giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh quốc gia, một cơ quan cấu thành của Bộ Dân ủy nội vụ chuyên trị việc trừng phạt. Nhưng Berija không thể hợp tác được với Ezhov. Cuối tháng 11 năm 1938, Ezhov được mời đến gặp Stalin. Trong phòng làm việc của Stalin còn có sự hiện diện của Voroshilov và Molotov. Sau nhiều giờ trao đổi một cách thẳng thắn, Ezhov đành phải viết đơn xin từ chức. Và Berija được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Dân ủy nội vụ.
Ngay sau đó, hơn một triệu người được thả ra khỏi các trại cải tạo. Đồng thời Berija tiến hành việc thanh lọc trong Bộ Dân ủy nội vụ. Trong bộ này, phần lớn dân Do Thái có trình độ văn hóa thấp thuộc diện cán bộ cao cấp và trung cấp. Hầu như tất cả bọn họ đều bị sa thải.
Một lớp cán bộ mới đã tốt nghiệp đại học hoặc đang học dở năm thứ ba, năm thứ tư, chủ yếu là người Nga, được tuyển dụng. Lúc ấy những vụ bắt bớ mới bắt đầu giảm hẳn.
Khi chúng ta nói về điều 58 thì không nên quên một chuyện. Một nữ đồng nghiệp của tôi là chị Galina Mikhailovna Ivanova, tiến sĩ sử học, đã có một phát hiện đáng chú ý để hiểu rõ hơn về thời kỳ đó. Trước và sau chiến tranh, những tên tội phạm chuyên nghiệp, theo quy định, không được làm việc. Và chúng cũng không làm việc. Nhưng cứ nửa năm một lần, tòa án lưu động lại ghé thăm các trại giam và xem xét các vụ phạm nhân vi phạm chế độ thụ án. Những ai từ chối làm việc thì bị kết tội phá hoại ngầm. Mà tội phá hoại ngầm là thuộc điều 58. Bởi vậy, cần phải thấy rằng bị xét xử theo điều luật này không chỉ có những kẻ thù chính trị của “nhóm Stalin” hoặc những người bị quy vào điều đó mà còn có cả những phạm nhân từ chối làm việc. Và, lẽ dĩ nhiên, có cả những tên gián điệp chính cống, những tên biệt kích, mà loại tội phạm này không phải là ít.
Không thể không nhắc tới một sự kiện là vào tháng 5 năm 1937 đã diễn ra vụ án về cái gọi là vụ mưu phản trong Bộ Dân ủy quốc phòng (NKO).
Được lưu truyền một huyền thoại cho rằng gần như toàn bộ đội ngũ cán bộ chỉ huy cốt cán của quân đội và hải quân đều bị trấn áp. Nhà nghiên cứu O.F. Suvenirov đã cho ra một cuốn sách với những số liệu (không trừ một ai) về các quân nhân bị bắt vào những năm 1935-1939: danh tính, ngày sinh, chức vụ, khi nào bị bắt, án phạt. Một cuốn sách dày cộm. Té ra 75% những người bị trấn áp thuộc diện quân đội là các chính ủy, các luật sư quân đội, các cán bộ quân nhu, các bác sĩ quân y, các kỹ sư quân đội. Bởi thế, ý kiến cho rằng dường như toàn bộ ban chỉ huy quân đội đã bị xó sổ là một câu chuyện hoang đường.
... Trong “vụ án Bộ Dân ủy quốc phòng” có một chi tiết đáng chú ý. Khi Stalin báo cáo tại Hội đồng quân sự về “vụ mưu phản mang tính chất chính trị - quân sự” thì ông tập trung sự chú ý vào một điểm: vụ mưu phản trong Bộ Dân ủy quốc phòng là phần kết thúc của một vụ án khác xảy ra vào năm 1935 mang cái tên “Mớ bòng bong”.
* Tôi nghĩ rằng không phải ai cũng hiểu vụ án đó là như thế nào.
Cuối năm 1934 anh rể của Stalin (trong cuộc kết hôn đầu tiên) từng công tác trong lãnh vực tài chính, đã viết thư cho Stalin thông báo rằng đang có một vụ mưu phản chống lại nhóm trung ủy của ông. Những ai có chân trong nhóm ấy? Bản thân Stalin, Molotov - người đứng đầu chính phủ, Ordzhonikidze - người chỉ đạo việc xây dựng ngành công nghiệp nặng, Voroshilov - Bộ trưởng Bộ Dân ủy quốc phòng, Litvinov - Bộ trưởng Bộ Dân ủy ngoại giao, người thi hành chính sách tích cực nhằm xích gần lại với các chế độ dân chủ phương Tây, Vyshinski, Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên Xô từ năm 1935, người đã trả tự do cho tất cả những ai bị trục xuất khỏi thành phố Leningrad sau vụ Kirov bị sát hại, đã thả gần 800 ngàn nông dân bị lâm nạn bởi cái gọi là “vụ án ba bông lúa”. Nằm trong nhóm này còn có Zhdanov, người đã thay thế Kirov ở Leningrad, và hai nhân vật rất quan trọng trong bộ máy của UBTƯ đảng: Steski, trưởng ban tuyên truyền cổ động và Jakovlev (Egshtein), người sáng lập hai tờ báo được phổ biến rộng rãi nhất - Nông Báo và Dân Nghèo, một ký giả có tài. Cũng như Steski, Jakovlev là ủy viên ủy ban Hiến pháp, nhưng chủ yếu là tác giả của bộ luật bầu cử.
Sau Hội nghị TƯ năm 1937 đã được nhắc tới mà ở đó những người theo phái đảng trị chỉ bề ngoài ủng hộ luật bầu cử, Steski và Jakovlev bị bắt và bị xử bắn. Người ta không nhắc tới hai nhân vật này, nhưng lại than khóc cho số phận của Tukhachevski, Uborevich, Jankirl và những người khác.
* Tôi đã từng nghe một định nghĩa: năm 1937 là ngày hội trừng phạt đối với đội cận vệ của Lênin, còn năm 1934 và năm 1935 là sự chuẩn bị cho ngày hội đó.
– Một nhà thơ vốn tư duy bằng hình tượng thì có thể nói như vậy. Nhưng vấn đề ở đây đơn giản hơn. Thậm chí sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, Lênin, Trotski, Zinov’ev và nhiều người khác không suy nghĩ một cách nghiêm túc rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi ở nước Nga lạc hậu. Họ đặt hy vọng vào những nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp. Bởi lẽ chính nước Nga dưới thời Sa hoàng, xét về trình độ phát triển công nghiệp, đã đứng sau nước Bỉ nhỏ tí xíu. Người ta đã quên mất điều đó. Và lấy làm tự hào về nước Nga (!). Nhưng trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất, chúng ta đã phải mua vũ khí của người Anh, người Pháp, người Nhật, người Mỹ.
Ban lãnh đạo Bônsêvich chỉ hy vọng vào cách mạng ở Đức. (Về điều này Zinov’ev đã viết rất rõ trên tờ Pravda). Ông ta nói rằng chỉ khi nào nước Nga liên kết với nước Đức thì nó mới có thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội.
Trong khi đó, ngay từ mùa hè năm 1923, Stalin đã viết cho Zinov’ev: thậm chí chính quyền từ trên trời rơi vào tay Đảng Cộng sản Đức thì nó cũng không thể giữ nổi. Stalin là người duy nhất trong giới lãnh đạo không tin vào cách mạng thế giới. Ông cho rằng sự quan tâm chủ yếu của chúng ta là nước Nga Xô viết.
Chuyện gì xảy ra tiếp đó? Cách mạng không nổ ra ở Đức. Còn ở ta có Chính sách kinh tế mới (NEP). Sau mấy tháng, đất nước đã khóc rống lên. Các xí nghiệp đóng cửa, hàng triệu người thất nghiệp. Các công nhân còn việc làm thì được lĩnh số tiền lương chỉ bằng 10-20% số tiền họ được lĩnh trước cách mạng. Đối với nông dân thì chế độ trưng thu lương thực thừa được thay bằng thuế lương thực, song thứ thuế này cao đến mức nông dân không chịu nổi. Nạn trộm cướp được gia tăng. Để có lương thực nộp thuế và nuôi gia đình, những người bần nông đã liều lĩnh tấn công các đoàn tàu hỏa. Tệ nạn này cũng phổ biến trong giới sinh viên: để có tiền ăn học, họ đã trấn lột bọn nhà giàu phất lên nhờ Chính sách kinh tế mới. NEP đã dẫn tới kết quả gì? Nó đã làm hư hỏng các cán bộ của đảng, của chính quyền Xô viết. Nạn hối lộ tràn lan khắp nơi. Chủ tịch Xô viết nông thôn, cảnh sát đều ăn tiền trong bất cứ một dịch vụ nào. Các giám đốc nhà máy sửa chữa nhà cửa của mình và mua sắm những đồ xa xỉ bằng tiền của xí nghiệp. Và cứ như thế từ năm 1921 đến năm 1928...
Trotski và cánh tay phải của ông ta trong lĩnh vực kinh tế là Preobrazhenski đã nghĩ cách chuyển ngọn lửa cách mạng sang châu Á và đào tạo cán bộ tại những nước cộng hòa phương Đông của chúng ta đồng thời cấp tốc xây dựng ở đó những nhà máy để “bồi dưỡng” giai cấp vô sản ở địa phương.
Stalin đưa ra một phương án khác: xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước riêng biệt. Hơn nữa, ông chưa một lần nào nói rằng bao giờ thì chủ nghĩa xã hội sẽ được xây dựng xong. Ông nói: xây dựng, còn sau đó một vài năm, nói rõ thêm: cần phải xây dựng nền công nghiệp trong 10 năm. Ngành công nghiệp nặng. Nếu không thì chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Ý kiến đó được phát biểu vào tháng 2 năm 1931. Stalin hơi bị nhầm lẫn một chút về thời gian. Sau 10 năm và 4 tháng, nước Đức đã tấn công Liên Xô.
Sự khác biệt giữa nhóm của Stalin và những người Bônsêvich cứng rắn mang tính chất nguyên tắc. Dù họ thuộc cánh tả như Trotski và Zinov’ev hay thuộc cánh hữu như Rykov và Bukharin - điều đó không quan trọng. Tất cả bọn họ đều đặt niềm hy vọng vào cách mạng ở châu Âu... Do đó, thực chất của vấn đề không phải là trừng trị mà là đấu tranh gay gắt để xác định đường lối phát triển đất nước.
* Ông muốn nói rằng cái thời kỳ mà dưới con mắt của nhiều người được coi là thời kỳ xảy ra những vụ trấn áp của Stalin, xét về một phía khác, là sự cố gắng nhằm xây dựng chế độ dân chủ nhưng không thực hiện được do nhiều nguyên nhân có phải không?
Hiến pháp mới phải dẫn tới điều này. Stalin hiểu rằng đối với con người ở thời kỳ ấy thì chế độ dân chủ là một cái gì đó chưa thể đạt tới được. Bởi lẽ đối với một học sinh lớp một thì không thể đòi hỏi những kiến thức của toán cao cấp. Hiến pháp năm 1936 là một bộ y phục quá rộng, may để phòng hao. Hãy lấy tình hình nông thôn làm một ví dụ. Sẽ được thành lập ủy ban đường phố, các cư dân của 10 - 12 hộ bầu ra một người chịu trách nhiệm về tình trạng làng xóm. Tự mình quản lý. Không ai ra lệnh cho họ cả. Đó là ý đồ học cách quan tâm đến cộng đồng, đến nề nếp trật tự công cộng. Và sau đó cứ thế mà đi tiếp... Mọi người quen dần với việc tự quản. Chính vì thế, dưới chính quyền Xô viết, hệ thống quyền lực được áp đặt từ trên xuống theo chiều thẳng đứng sẽ dần dần bị triệt tiêu.
Nhưng chúng ta đã bị tước mất tất cả những điều đó bởi những cải cách giả hiệu vào đầu những năm 90. Cần phải hiểu rằng chúng ta đã mất đi những cơ sở của nền dân chủ. Hiện nay người ta bảo: chúng tôi trả lại việc bầu chọn những người đứng đầu cơ quan hành chính, việc bầu chọn các thị trưởng, việc bầu chọn trong đảng cầm quyền... Nhưng, thưa các bạn, điều đó đã từng có, chúng ta đã từng có tất cả những thành tựu ấy.
Stalin, khi bắt đầu những cải cách chính trị vào năm 1935, đã phát biểu một tư tưởng quan trọng: “Chúng ta cần phải giải phóng đảng thoát khỏi hoạt động kinh tế”. Nhưng ông liền nói rõ thêm rằng việc đó sẽ không nhanh chóng được đâu. Malenkov cũng đã nói về điều này tại Hội nghị TƯ lần thứ 18 vào tháng 2 năm 1941. Lại còn một Hội nghị TƯ vào tháng 1 năm 1944. Bộ Chính trị đã nhóm họp trước Hội nghị toàn thể của TƯ, một Hội nghị TƯ duy nhất trong những năm chiến tranh. Bộ Chính trị đã xem xét bản dự thảo nghị quyết do Stalin, Molotov, Malenkov ký. Bản dự thảo gồm 5 trang đó nói rõ: Các khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy, thành ủy đã tuyển dụng những cán bộ thông minh nhất và tài năng nhất, nhưng chả đem lại lợi ích gì. Họ ra lệnh về tất cả những vấn đề của cuộc sống, nhưng nếu như thực hiện sai thì các cơ quan Xô viết là những người chấp hành phải chịu trách nhiệm. Bởi vậy bản dự thảo đề ra việc nên giới hạn hoạt động của các đảng ủy ở việc tuyên truyền, cổ động và tham gia vào công tác tuyển chọn cán bộ. Tất cả những phần việc còn lại là công việc của các cơ quan chính quyền (tức các Xô viết). Bộ Chính trị đã bác kiến nghị đó, mặc dầu nó mang ý nghĩa của việc cải cách đảng.
Còn sớm hơn nữa, vào năm 1937, khi thảo luận về luật bầu cử, Stalin đã đưa ra một nhận xét: “Thật may hoặc không may là chúng ta chỉ có một đảng”. Rõ ràng, trong một thời gian dài ông đã trở đi trở lại với suy nghĩ là cần phải đưa các cơ quan của chính quyền nhà nước thoát khỏi sự giám sát ngặt nghèo của đảng. Và, nếu thành công, sẽ tạo dựng đối thủ của đảng đang tồn tại. Stalin đã qua đời và không đạt được ý tưởng này.
* Tiện thể xin nói thêm rằng sau cái chết của Stalin, tiêu điểm của sự chú ý thường được chuyển sang những sự kiện như việc Berija bị bắt và bị xử bắn. Liệu có phải đó là sự kiện quan trọng nhất không?
Sau khi Stalin qua đời, người đứng đầu chính phủ Liên Xô là Malenkov, một trong những chiến hữu gần gũi nhất của Stalin, đã cắt bỏ những khoản trợ cấp ưu đãi đối với tầng lớp cán bộ cao cấp của đảng. Chẳng hạn, việc cấp phát hàng tháng một món tiền (“phong bao”) gấp hai, ba lần, có khi tới năm lần so với số tiền lương. Và những tiêu chuẩn nhà điều dưỡng, xe ô tô riêng, chế độ phục vụ đặc biệt... Đồng thời nâng lương cho các cán bộ cơ quan nhà nước lên 2-3 lần. Các cán bộ đảng, theo thang giá trị phổ biến, trở nên thấp hơn nhiều so với các cán bộ nhà nước.
Đợt tiến công vào những quyền lợi ngấm ngầm của tầng lớp cán bộ đảng cao cấp kéo dài được ba tháng. Các cán bộ này liền cấu kết với nhau và lên tiếng khiếu nại với bí thư TƯ đảng Khrushchev về việc “các quyền lợi” của họ bị đụng chạm. Họ yêu cầu được hưởng chí ít một chút gì mà những người khác không có.
Khrushchev đã đạt được việc hủy bỏ quyết định ấy, tất cả “những mất mát” được hoàn lại cho tầng lớp cán bộ cao cấp của đảng một cách hậu hĩnh. Và Khrushchev tại Hội nghị TƯ tháng chín được nhất trí bầu làm bí thư thứ nhất. Mặc dầu tại Hội nghị TƯ tháng ba, mọi người đã quyết định xóa bỏ chức vụ này và chuyển sang chế độ lãnh đạo tập thể.
Sau đó ít lâu, Malenkov được điều đến làm việc ở Ural. Đã bắt đầu một thời kỳ thỏa hiệp vô nguyên tắc - nếu nói về hệ thống cấu trúc nội tại của chính quyền, khi tầng lớp cán bộ cao cấp của đảng (bằng việc thuyên chuyển quanh co từ các cơ quan nhà nước sang các cơ quan đảng và ngược lại) càng ngày càng trở nên lộng hành hơn. Và đánh mất khả năng cảm nhận được thời đại, khiến cho đất nước ngừng phát triển. Hậu quả là tình trạng trì trệ, là sự thoái hóa chính quyền đã dẫn tới những biến cố năm 1991 và 1993.
* Như vậy là những quyết định vừa được nhắc tới của Malenkov - đó là những hoài bão không thực hiện của Stalin?
– Có rất nhiều cơ sở để coi là như vậy.
* Đó là sự phục thù thực sự của tầng lớp cán bộ đảng cao cấp nhằm trả đũa.
– Tất nhiên rồi. Đánh giá những năm đó, ta có khẳng định rằng Stalin mong muốn tạo ra một nền kinh hùng mạnh và đã đạt được điều đó. Chúng ta đã trở thành một trong hai siêu cường quốc, cho dù sau khi ông qua đời, nhưng chính ông là người đặt nền móng.
Ông mong muốn hạn chế bớt quyền lực của các quan chức, ông cố gắng bồi dưỡng nền dân chủ cho nhân dân để nó được thực hiện, dù phải qua mấy thế hệ nữa, song ông ước nó thấm vào máu thịt của nhân dân. Tất cả những điều này đã bị Khrushchev hủy bỏ. Sau đó là cả Brezhnev, nếu căn cứ vào việc đảng được nhắc tới trong điều nào của Hiến pháp. Kết quả là bộ máy của đảng và bộ máy của nhà nước nhập làm một với phong cách của chế độ đảng trị: lãnh đạo nhưng không hề chịu trách nhiệm. Trước đây còn có những đòn bẩy kiểm tra. Chẳng hạn nếu ở nơi anh sống có chuyện gì không ổn, mà đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, anh có thể khiếu nại đến quận ủy, ở đó người ta xem xét. Từng tồn tại ủy ban kiểm tra Xô viết, ủy ban kiểm tra nhân dân. Đó cũng là công cụ giám sát các quan chức.
Sau vụ phản cách mạng năm 1991-1993, các quan chức được giải phóng khỏi mọi kiểu giám sát có thể có đối với bản thân mình và do đó họ tha hồ lộng hành. Người ta định hủy bỏ hệ thống nhưng nó vẫn được duy trì và ngày càng trở nên tệ hại hơn.
(Theo Literaturnaja Gazeta, số 28, tháng 7/2012)
__________
Chú thích:
1. Juri Zhukov (sinh năm 1938), nhà sử học Nga, tiến sĩ các khoa học lịch sử, nghiên cứu viên cao cấp Viện lịch sử Nga trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAN). Tác giả của nhiều công trình về lịch sử Liên Xô, về Stalin và thời kỳ Stalin. Bài viết này là cuộc trao đổi giữa J. Zhukov với biên tập viên tờ Literaturnaya Gazeta của Liên bang Nga.
2. Tukhachevski M.N. (1893-1937), nguyên soái Liên Xô. Uborevich I.P. (1896-1937), tư lệnh tập đoàn quân. Jankir I.E. (1896-1937), tư lệnh tập đoàn quân. Ba nhân vật này bị kết tội tham gia vụ mưu phản và đều bị xử bắn năm 1937 (L.S).
Nguồn: "Một nền văn hóa biết xấu hổ", Lê Sơn tuyển dịch, NXB Văn Học, 2013.
Nhận xét
Đăng nhận xét