Về vai trò của những nhân tố khách quan và những nhân tố chủ quan trong sự phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa và đường lối "Chính trị là thống soái"
Về vai trò của những nhân tố khách quan và những nhân tố chủ quan trong sự phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa và đường lối "Chính trị là thống soái"
Chính sách kinh tế của một đảng mácxít – lêninnít chỉ có thể đạt được kết quả khi cơ sở hoạt động của nó là một cương lĩnh khoa học, trong đó phân tích được các khuynh hướng lịch sử của sự phát triển xã hội, đáp ứng được những yêu cầu của các quy luật kinh tế và xã hội khách quan. Với ý nghĩa đó thì chính sách kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm gần đây là một ví dụ phản diện. Đường lối "Ba ngọn cờ hồng" (Đường lối chung, "Đại nhảy vọt" và công xã nhân dân), công bố vào năm 1958 đã phủ nhận mọi tham vọng giải quyết một cách khoa học các nhiệm vụ kinh tế quốc dân to lớn. Việc phân tích những điều kiện khách quan của sự phát triển đã bị thay bằng câu nói "cách mạng" ba hoa: chỉ riêng ý chí mạnh mẽ là có thể giải quyết được mọi nhiệm vụ kinh tế. Bản báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại cuộc họp lần thứ 2 Đại hội đại biểu toàn quốc khóa VIII đề ra đường lối đẩy nhanh đến mức tối đa tốc độ xây dựng kinh tế đã viết: "Tất cả đều phụ thuộc vào ý chí, vào bàn tay của con người, tính tích cực chủ quan của quần chúng nhân dân là động lực vĩ đại. Coi thường động lực vĩ đại đó tức là đi ngược với chủ nghĩa Mác–Lênin. Một số người nói rằng đấu tranh chính trị và tư tưởng không thể mang lại lúa gạo, than và gang. Nói như vậy chẳng khác gì thấy cây mà chẳng thấy rừng. Xin hỏi: nếu đường lối chính trị đúng đắn được xác định và thực hiện, nếu những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân được giải quyết một cách đúng đắn, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa của những người lao động được nâng cao thì lẽ nào không mang lại nhiều lúa gạo hơn, nhiều than và gang hơn, và trong tương lai chúng sẽ được sản xuất ra ngày một nhiều hơn?" (1). Ban lãnh đạo Trung Quốc cho rằng, để thực hiện các kế hoạch "đại nhảy vọt" vĩ đại của đất nước chỉ cần có nhiều "những con người dám nghĩ, dám nói và dám làm, dám từ bỏ niềm tin mù quáng và dám sáng tạo cái mới... Chỉ có dựa vào những con người như vậy – bản báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trong hội nghị lần thứ 2 của Đại hội VIII viết – chúng ta mới có thể lãnh đạo được nhân dân cả nước đi từ bước nhảy vọt này đến bước nhảy vọt khác, thực hiện được sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo phương châm "nhanh, nhiều, tốt, rẻ" (2).
Nhưng khi đưa ra đường lối mới, ban lãnh đạo Trung Quốc đã buộc phải thừa nhận rằng: "có một số người không hiểu tầm quan trọng của việc nâng cao tốc độ xây dựng, không tán thành đường lối xây dựng "nhanh, nhiều, tốt, rẻ", và dã biểu thị "sự phản đối này nọ" (3). Nhiều tài liệu cho biết những người phản đối đường lối mới của Mao chống lại việc áp dụng biện pháp lợi dụng phong trào quần chúng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, họ cho rằng điều đó không hơn gì "một phong trào mù quáng tiểu tư sản", nó chỉ đảm bảo "nhiều và nhanh", chứ không "tốt và rẻ", nó sẽ "có hại nhiều hơn là có lợi". Ban lãnh đạo Trung Quốc đã không thể che giấu nỗi sự thật là nhiều người có tư tưởng hiện thực khi đó cũng đã cho rằng không có khả năng nâng cao quá mức tốc độ xây dựng, vì điều đó có thể làm nhân dân quá căng thẳng, gây ra tình trạng xa phí, làm mất cân đối giữa các ngành sản xuất, giữa thu và chi tài chính; những người này còn trực tiếp nói rằng không có cơ sở vật chất khách quan để xây dựng công xã nhân dân, rằng công xã nhân dân không phải là sản phẩm của sự cần thiết khách quan mà là sản phẩm của những ước vọng chủ quan của một số ít người (4). Bởi vì sự phân tích kinh tế là cơ sở của mọi sự phản đối này đối với đường lối của Mao, cho nên những người phản đối bị buộc tội là bảo thủ, là cơ hội hữu khuynh và thiếu "dũng khí" cách mạng.
Mặc dù bản báo cáo trên đã công khai thừa nhận phải "kết hợp nhiệt tình cách mạng với năng lực công tác thực tế", không được chỉ nói suông mà không làm, "phải định mức như thế nào, để có thể thực hiện được trong những điều kiện cần thiết", "không coi là kế hoạch nếu việc thực hiện chúng trong thực tế tỏ ra không có khả năng, bởi lẽ sự phá sản của các kế hoạch làm mất tính tích cực của quần chúng" (5), nhưng những nhiệm vụ cụ thể của đường lối mới lại hướng hoạt động kinh tế đi sang một quỹ đạo hoàn toàn khác. Mùa xuân năm 1958 đã công bố cuộc "đại nhảy vọt mùa xuân", nhân dân được hứa hẹn: "Gian khổ vài năm để hưởng hạnh phúc muốn đời". Tốc độ xây dựng xã hội chủ nghĩa đã được xét lại theo hướng nâng cao thêm một cách đặc biệt: những nhiệm vụ mà năm 1956 dự định thực hiện trong 15 năm đã được quyết định hoàn thành trong 5 năm. Nếu kế hoạch 5 năm lần thứ hai được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ VIII thống qua đã dự kiến trong 5 năm tăng sản xuất thép lên khoảng 2 lần, thì theo phương án mới, phương án "đại nhảy vọt" trong thời gian trên, sản xuất thép được dự định tăng 20 lần, sản xuất công nghiệp dự định tăng 6,5 lần (thay thế cho mức tăng dự kiến trước đó là 2 lần); sản xuất nông nghiệp dự định tăng 2,5 lần (thay thế cho mức tăng dự kiến trước đó là 35%). Những kế hoạch này được xây dựng một cách hoàn toàn chủ quan, duy ý chí, không hề dựa trên cơ sở tính toán kinh tế, dù là những tính toán kinh tế giản đơn nhất. Thế nhưng ban lãnh đạo Trung Quốc lại cố tình dựa vào các kế hoạch "đại nhảy vọt" để xây dựng nhanh chóng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trong việc này người ta đã quên mất chân lý mácxít rõ như ban ngày là "xã hội, ngay cả khi nó phát hiện ra dấu vết của quy luật phát triển tự nhiên... cũng không thể bỏ qua các giai đoạn phát triển tự nhiên, không thể thủ tiêu các giai đoạn phát triển đó bằng mệnh lệnh" (6), những nhiệm vụ đó chỉ có thể giải quyết thắng lợi bằng cách chuẩn bị và đẩy nhanh sự chín muồi các tiền đề vật chất và tinh thần của chúng.
Chủ nghĩa Mác–Lênin hoàn toàn không phủ nhận vai trò tích cực của nhân tố chủ quan trong đời sống xã hội. Nhưng những điều kiện khách quan đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của xã hội, còn tác động của nhân tố chủ quan cuối cùng phụ thuộc vào những điều kiện khách quan đó. Nhân tố chủ quan có vai trò độc lập tương đối, và chỉ trong điều kiện có những tiền đề khách quan, nó mới có thể đóng vai trò quyết định. Cân nhắc thận trọng toàn bộ các nhân tố khách quan và những khả năng hiện thực là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho nhân tố chủ quan phát huy một cách có kết quả. Bởi vì việc biến những khả năng do những điều kiện khách quan hình thành phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, cho nên nhân tố chủ quan có vai trò quyết định đối với việc đẩy nhanh hoặc kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế. Lênin viết: "Chủ nghĩa Mác khác với mọi lý thuyết xã hội chủ nghĩa khác ở chỗ nó thống nhất một cách xuất sắc tính khoa học chính xác tuyệt vời trong việc phân tích tình hình khách quan của sự vật và của quá trình tiến hóa khách quan với sự thừa nhận một cách dứt khoát nhất ý nghĩa của nhiệt tình cách mạng, tính sáng tạo cách mạng và sáng kiến cách mạng của quần chúng" (7). Chủ nghĩa Mác thừa nhận khả năng khách quan của con người, nhờ đó mà con người có thể lợi dụng các quy luật khách quan nhằm thực hiện những mục tiêu chủ quan của họ. Nhưng con người có thể lợi dụng các quy luật khách quan nhằm đạt được những mục đích của mình trong điều kiện nhận thức đúng đắn các quy luật và vận dụng chúng một cách đúng đắn vào hoạt động thực tế của mình. Ăngghen viết: "Tự do không ở chỗ độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở chỗ nhận thức ra các quy luật đó và ở khả năng được hình thành trên cơ sở nhận thức đó, buộc các quy luật của tự nhiên tác động vào các mục đích nhất định một cách có kế hoạch" (8). Quan điểm đó hoàn toàn thích hợp với các quy luật phát triển xã hội và kinh tế.
Nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc phát triển xã hội là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Đó là do bản chất của chế độ kinh tế của chủ nghĩa xã hội quy định: chế độ xây dựng trên cơ sở sở hữu xã hội các tư liệu sản xuất, nó đòi hỏi mọi người thống nhất hành động, đồng thời nó cho phép lợi dụng một cách có ý thức và có kế hoạch các quy luật kinh tế khách quan và thực tiễn kinh tế. Dưới chủ nghĩa xã hội, quần chúng lao động ngày càng được thu hút rộng rãi vào việc lãnh đạo các quy luật kinh tế và xã hội. Cùng với sự tăng lên về số lượng quần chúng tham gia vào hoạt động này thì vai trò của ý thức giác ngộ, tính tích cực và sáng kiến của họ cũng tăng lên. Trong điều kiện đó, vai trò lãnh đạo quần chúng của Đảng Cộng sản được nâng cao rất nhiều. Bằng hoạt động có ý thức của mình, Đảng Cộng sản có thể làm tăng tính tích cực của quần chúng, nhưng không thể kích thích tính tích cực của quần chúng một cách tùy tiện, trên cơ sở một ý đồ nào đó – sự tăng cường thực sự tính tích cực của quần chúng bao giờ cũng được hình thành trước hết bởi những nhân tố khách quan.
Khả năng phát triển kinh tế một cách có ý thức và có kế hoạch dưới chủ nghĩa xã hội, không có nghĩa là các điều kiện khách quan đã mất vai trò quyết định và nhân tố chủ quan trở thành nhân tố quyết định. Tiền đề khách quan của sự phát triển vẫn duy trì, xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có khả năng tránh được những tổn thất do sự phát triển tự phát vô chính phủ gây ra nhờ hướng được sự phát triển của xã hội phù hợp với những điều kiện khách quan và với những quy luật kinh tế xã hội tác động dưới chủ nghĩa xã hội. Coi thường điều đó là rơi vào chủ nghĩa chủ quan, không những không thúc đẩy được xã hội tiến lên, mà còn cản trở xã hội tiến lên, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi của nhân dân.
Hoạt động kinh tế của Nhà nước càng dựa trên cơ sở tính toán, cân nhắc các quy luật kinh tế khách quan toàn diện và đầy đủ bao nhiêu thì càng có hiệu quả và thành công bấy nhiêu. Điều đó cho chúng ta thấy tại sao các căn cứ khoa học của hoạt động kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một chính sách chỉ có thể trở nên có căn cứ khoa học khi nó thừa nhận ý nghĩa quyết định của các điều kiện khách quan, đồng thời tính đến vai trò tiền phong của nhân tố chủ quan trong việc biến những khả năng xuất hiện trên cơ sở các điều kiện khách quan thành hiện thực.
Nhưng những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chẳng quan tâm gì đến những chân lý khoa học khi họ buộc nhân dân Trung Quốc đi theo đường lối mà ở trong nước vẫn chưa có những tiền đề khách quan cần thiết và những khả năng hiện thực để thực hiện đường lối đó. Xuất phát từ vai trò của nhân tố chủ quan tăng lên dưới chủ nghĩa xã hội, họ đã nuôi dưỡng ảo tưởng về sức mạnh vạn năng của nhân tố chủ quan, đã tuyệt đối hóa vai trò của nó và đã không hiểu, đúng ra là không muốn hiểu rằng, nhân tố chủ quan có thể có ý nghĩa quyết định, nhưng không phải tự thân nó mà chỉ phát huy vai trò quyết định trên cơ sở các điều kiện khách quan hiện có, nếu hoạt động chủ quan của con người không được hình thành trên cơ sở tính toán chính xác các điều kiện khách quan và những khả năng thực tế thì có thể dẫn đến những kết quả trái ngược hoàn toàn với những mục tiêu đề ra.
Các kế hoạch "đại nhảy vọt" được xây dựng trên cơ sở những tiền đề hoàn toàn lý tưởng, không phù hợp với những khả năng thực tế của lực lượng sản xuất của Trung Quốc. Trong nước, không hề có những khả năng sản xuất cần thiết, không có những phương tiện tài chính cần thiết, và cũng không đủ những cán bộ có trình độ để thực hiện các kế hoạch trên. Quy mô to lớn của xây dựng cơ bản trong công nghiệp trong những năm "đại nhảy vọt", không khớp với khả năng sản xuất thép, xi–măng, gỗ, với số máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải hiện có, với số lượng cán bộ, công nhân lắp ráp hiện có. Do đó đã buộc phải đình chỉ nhiều công trình xây dựng, ngay cả các công trình đã bắt đầu xây dựng trong những năm tiếp theo.
Mặc dù nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là ngành luyện kim đen, không thực hiện được phần lớn kế hoạch nửa đầu năm 1958, tháng 8–1958 trong phiên họp mở rộng của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn cứ thông qua quyết định tăng sản xuất thép lên 2 lần, tất nhiên điều đó đòi hỏi phải chuyển mọi phương tiện của đất nước sang làm gang thép, những kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp trước đó đều được xem xét lại, và những chỉ tiêu mới của các kế hoạch đã được đưa ra một cách tùy tiện, không có căn cứ kinh tế – kỹ thuật chặt chẽ. Chẳng bao lâu đã bộc lộ rõ ràng, những kế hoạch mới hoàn toàn thoát ly khỏi những khả năng vật chất – kỹ thuật thực tế. Nguyên vật liệu và năng lượng thiếu, cán bộ đào tạo ra không đủ, những khả năng của ngành chế tạo mới và các ngành vận tải không được dự tính, cân nhắc đầy đủ.
Những người lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định năm 1959 là "năm nhảy vọt mới", nhưng trong các chỉ tiêu của kế hoạch ban đầu họ đã đánh giá thấp vai trò và ý nghĩa của những khó khăn kinh tế hình thành trong năm "đại nhảy vọt" đầu tiên. Tương ứng với những nhiệm vụ của kế hoạch ban đầu năm 1959, riêng đối với ngành công nghiệp luyện kim, nhu cầu về quặng sắt thì có thể thỏa mãn được 1/2, và than cốc chỉ thỏa mãn được 1/5, về gạch chịu lửa 1/4.
Kế hoạch của ngành cơ khí chủ yếu được xây dựng trên cơ sở nhiệt tình cách mạng của quần chúng và trên cơ sở nhu cầu to lớn của đất nước đối với thiết bị, hoàn toàn không tính đến các nhân tố như khả năng sản xuất của ngành cơ khí, khả năng bảo đảm nguyên vật liệu, số lượng công nhân lành nghề, kỹ sư và nhân viên kỹ thuật, chất lượng sản phẩm. Trong ngành khai thác quặng khi xác định nhiệm vụ, người ta hoàn toàn không tính đến những khả năng của công tác thăm dò, khả năng bảo đảm thiết bị và máy móc cho công tác đó, cũng như khả năng kỹ thuật khai thác các nguồn tài nguyên đã khám phá ra. Tình trạng chậm trễ nghiêm trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch ban đầu. Trong nửa đầu năm 1959 đòi hỏi phải xem xét lại kế hoạch. Nhưng ngay những chỉ tiêu đã được xem xét lại của kế hoạch năm 1959 cũng vẫn còn cao, ít gắn với những khả năng thực tế của đất nước. Hơn thế nữa, mặc dù tình hình quá căng thẳng, và thường xuyên thoát ly khỏi khả năng vật chất – kỹ thuật trong suốt thời gian 1958–1959, kế hoạch năm 1960 vẫn rất cao, chẳng hạn như trong quý I năm 1960, do sự hao hụt dần các nguồn dự trữ nguyên vật liệu nên chỉ bảo đảm nổi 30% sản xuất trong kế hoạch, thể nhưng nhiệm vụ sản xuất của các xí nghiệp đều đề ra cao hơn mức mà kế hoạch ban đầu quy định. Do đó, bắt đầu từ quý 2 năm 1960, sự giảm sút mạnh và liên tục sản xuất công nghiệp trong các ngành công nghiệp nặng cuối cùng đã làm giảm sút chung trong toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân.
Như vậy là tham vọng phát triển sản xuất với tốc độ quá cao một cách tùy tiện, bất chấp cả những khả năng thực tế đã không có tác dụng đẩy nhanh mà còn làm chậm lại, thậm chí làm giảm sút sản xuất, những việc làm đó không tránh khỏi làm mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, vi phạm quá trình bình thường của tái sản xuất. Thật ra, khâu quyết định của "bước nhảy thẳng lên chủ nghĩa cộng sản" của nền kinh tế Trung-quốc năm 1958 là thép, nhưng đường lối "thép cơ sở để thúc đẩy mọi cái" không hề dựa trên một căn cứ chặt chẽ nào. Căn cứ duy nhất của đường lối này là tình trạng thiếu thép cung cấp cho ngành cơ khí và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong những năm trước, nhưng thực tế không phải chỉ thiếu thép, mà thiếu nhiều nhất lại là nguyên liệu, nhiên liệu, điện, v.v... vậy mà những nguồn lao động, vật tư, tài chính và phần lớn năng lực sản xuất của đất nước lại dồn vào sản xuất và phục vụ sản xuất thép trong thời kỳ "nhảy vọt". Vấn đề thép đã được thổi phồng lên quá đáng, và đã giải quyết một cách tùy tiện không tính đến các nhu cầu thép của ngành cơ khí và xây dựng, không tính đến những khả năng về nguyên nhiên liệu, và hơn thế nữa đã không tính đến khả năng của nhân dân, đến những thiệt hại đối với tất cả các ngành khác do sức lao động, các phương tiện tài chính và nguyên vật liệu dồn vào việc sản xuất thép xem nhẹ các ngành đó. Thực tế của "đại nhảy vọt" đã chứng minh rằng việc lựa chọn khâu quyết định trên là không đúng, là chủ quan, do đó không những không giải quyết được vấn đề công nghiệp hóa, mà còn phá hoại nghiêm trọng ngành sản xuất quan trọng nhất khác của nền kinh tế quốc dân – ngành sản xuất nông nghiệp.
Trong tình hình mất cân đối ngày càng nghiêm trọng, sản xuất giảm sút, một đường lối mới, trong đó nông nghiệp được coi là cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đã được ban hành. Cơ sở của việc lựa chọn "khâu quyết định" mới này lại chính là tình trạng lạc hậu nghiêm trọng của sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc. Vai trò to lớn của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc, là điều hiển nhiên, nhưng sau khi "đại nhảy vọt" phá sản, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tuyệt đối hóa vai trò đó. Đường lối "nông nghiệp là cơ sở phát triển của nền kinh tế quốc dân" trên thực tế biểu hiện ở chỗ hạn chế xây dựng cơ bản (đặc biệt trong các ngành công nghiệp nặng), di chuyển sức lao động ngược lại từ thành phố về nông thôn, dồn các nguồn tài chính, vật tư cơ bản cho nông nghiệp, hướng tất cả các ngành kinh tế khác phục vụ cho nông nghiệp.
Các kế hoạch của từng ngành sản xuất xã hội đòi hỏi phải phối hợp và gắn bó chặt chẽ với kế hoạch kinh tế quốc dân thống nhất, phản ánh đúng đắn các nhu cầu và khả năng thực tế của sự phát triển kinh tế. Thế nhưng kế hoạch phát triển sản xuất thép trong những năm "đại nhảy vọt" đã không phối hợp với các kế hoạch phát triển của các ngành khác, còn trong giai đoạn "điều chỉnh", các kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp đã không phối hợp với sự phát triển của công nghiệp và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân.
Hướng mọi ngành kinh tế vào phục vụ nông nghiệp, cũng như trong thời gian "đại nhảy vọt" đã hướng mọi ngành vào phục vụ "sản xuất thép lò nhỏ", là quan điểm phiến diện một chiều đối với vấn đề phát triển kinh tế, là sự phá hoại các tỷ lệ cân đối cơ bản của tái sản xuất xã hội chủ nghĩa. Sự lựa chọn chủ quan khâu quyết định, không thấy cần thiết phải duy trì các tỷ lệ cân đối trong quá trình tái sản xuất xã hội đã dẫn đến tình trạng chỉ phát triển một ngành của nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến các ngành khác, đã không thực hiện được quá trình tái sản xuất mở rộng một cách cân đối, có kế hoạch nói chung.
Sự vi phạm những yêu cầu phát triển kinh tế một cách cân đối, những đòi hỏi duy trì các quan hệ tỷ lệ tối ưu giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa tích lũy với tiêu dùng, giữa sản xuất các tư liệu sản xuất với sản xuất các đối tượng tiêu dùng v.v..., ở Trung Quốc trong những năm gần đây đang làm giảm hiệu quả của sản xuất, dẫn đến những sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành. Thái độ không tính đến sự cần thiết khách quan của các mối quan hệ giữa các ngành khi giải quyết các vấn đề kinh tế lớn đã dẫn đến tình trạng lãng phí các nguồn vật tư và lao động.
Kế hoạch "đại nhảy vọt" công bố vào mùa xuân 1958 thực tế đã vứt bỏ kế hoạch 5 năm lần thứ hai năm các chuyên gia Trung Quốc và Liên Xô xây dựng một cách công phu, cẩn thận. Nhưng một kế hoạch kinh tế thống nhất mới đã không được vạch ra. Trong năm 1958, 3 kế hoạch kinh tế quốc dân đã được thông qua với tính chất là những chỉ thị:
1. Kế hoạch tối thiểu đối với Trung ương được Hội nghị đại biểu nhân dân toàn quốc phê chuẩn.
2. Kế hoạch tối đa đối với Trung ương và là kế hoạch tối thiểu đối với các tỉnh.
3. Kế hoạch tối đa đối với các tỉnh và là kế hoạch tối thiểu đối với các huyện, hơn nữa các nguồn vật tư được phân phối theo kế hoạch tối thiểu. Dưới khẩu hiệu đấu tranh chống chủ nghĩa bảo thủ (chống các kế hoạch quá thấp) mọi nơi đều xét lại các chỉ tiêu của các kế hoạch hàng năm và kế hoạch triển vọng trước đó. Nếu kế hoạch kinh tế quốc dân năm 1959 được xây dựng lại hai lần thì kế hoạch của ngành cơ khí đã thay đổi 5 lần trong một năm, kế hoạch của ngành luyện kim đã thay đổi 3 lần, kế hoạch kinh tế quốc dân năm 1960 được xây dựng theo 3 phương án (mỗi phương án chênh lệch nhau 20–30%). Đối với các kế hoạch ở địa phương thì việc xét lại các kế hoạch diễn ra như cơm bữa: chỉ trong thời gian vài tháng, nhiệm vụ sản xuất của các xí nghiệp thay đổi hàng chục lần. Đặc biệt nữa là trong quá trình "hoàn thiện" các kế hoạch mà việc làm này được thực hiện ngay trong thời gian thực hiện kế hoạch, người ta đã thay đổi không chỉ riêng các chỉ tiêu của kế hoạch sản xuất, mà cả những nhiệm vụ chuyên môn hóa của xí nghiệp trong sản xuất, do đó nhiều xí nghiệp đã phải cấp tốc điều chỉnh sản xuất, xác lập những quan hệ mới về hợp tác và về cung cấp vật tư – kỹ thuật. Những sự thay đổi các kế hoạch một cách thường xuyên và không nhằm mục đích tiết kiệm ở Trung ương cũng như ở địa phương đã làm giảm nghiêm trọng vai trò tổ chức của các kế hoạch, ảnh hưởng xấu đến công tác của các xí nghiệp công nghiệp. Nhiều xí nghiệp đã không lên nổi biểu cân đối hằng tháng, thậm chí hằng quí và hằng năm, tình hình hạch toán và thanh toán tài chính trong các xí nghiệp đã xấu đi một cách nghiêm trọng. Những nhiệm vụ kế hoạch đối với các xí nghiệp đã bắt đầu mang tính chất giả thiết hoàn toàn. Người ta bắt đầu coi chúng như những vật làm hạn chế tính sáng tạo và tính tích cực của quần chúng.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được nếu như không có các kế hoạch dài hạn. Mọi người đều rõ, Lênin đã đánh giá tầm quan trọng lớn lao như thế nào đối với kế hoạch triển vọng khi người gọi kế hoạch triển vọng đầu tiên của nước Nga xô-viết, kế hoạch "Điện khí hóa toàn Nga", tính toán khả năng phát triển trong 10–15 năm là cương lĩnh thứ hai của Đảng. Thế nhưng sau khi thủ tiêu trên thực tế kế hoạch 5 năm lần thứ hai, nền kinh tế Trung Quốc không có một kế hoạch triển vọng nào về sự phát triển, mà ngay cả những con số tính toán trong thời gian năm – bảy năm tới cũng không có. Tình trạng không có một kế hoạch kinh tế quốc dân dài hạn trong suốt thời kỳ "đại nhảy vọt", "điều chỉnh" và "cách mạng văn hóa" làm cho Trung Quốc không thể giải quyết đúng đắn các vấn đề phân bố và xây dựng những công trình công nghiệp lớn mới (nhà máy điện, các liên hợp luyện kim, các xí nghiệp cơ khí lớn, đường sắt v.v...). Không thể giải quyết một cách hợp lý vấn đề phát triển cân đối các ngành kinh tế quốc dân. Cũng cần thấy rằng, trong điều kiện biến động mạnh mẽ nhịp độ phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây, việc tìm kiếm một cơ sở xuất phát đáng tin cậy để vạch ra kế hoạch triển vọng là rất khó khăn; tình trạng thiếu kinh nghiệm, bộ máy kế hoạch của Trung quốc yếu cũng là yếu tố cần tính đến.
Sự phát triển kinh tế của Trung quốc trong những năm gần đây không chỉ thiếu kế hoạch kinh tế triển vọng dài hạn, mà còn không có cả những kế hoạch hằng năm được xây dựng kịp thời (hoặc được xây dựng nói chung). Tình trạng rối loạn của nền kinh tế Trung Quốc uốc do "đại nhảy vọt" gây ra nghiêm trọng đến mức từ năm 1961 và suốt thời gian "điều chỉnh" các cơ quan kế hoạch của Trung Quốc nhìn chung đã không thể vạch ra được kế hoạch hằng năm trên thực tế. Sự kiện sau đây đã chứng minh điều đó; các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 1961 và 1962 đã được tranh luận trong Hội đồng Nhà nước mãi đến tháng 7–1963 đồng thời với việc tổng kết quá trình thực hiện chúng. Lần đầu tiên trong những năm gần đây, kế hoạch kinh tế quốc dân năm 1964 đã được thông qua trước ngày thực hiện kế hoạch (tháng 12–1963). Trung Quốc uốc tuyên bố năm 1966 là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ ba mới, nhưng bản thân kế hoạch 5 năm và những số liệu của kế hoạch đều không công bố.
Từ năm 1966, không phải kế hoạch 5 năm mới quy định phương hưởng phát triển kinh tế, mà là những bức thư, những sắc lệnh và những chỉ thị của "Tổ công tác cách mạng văn hóa trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung quốc" được người ta giải thích một cách tùy tiện ở các địa phương. Trong tình hình lộn xộn do cuộc "cách mạng văn hóa" gây ra, nhiều xí nghiệp thôi không nhận nhiệm vụ kế hoạch; một số khác nhìn chung đã đóng cửa; còn trong các xí nghiệp còn lại, những người lãnh đạo bị tiêu diệt hoặc bị thay đổi thường xuyên. Các chỉ thị của chính quyền mới đầu cần trước hết phải bảo đảm "tinh thần cách mạng" của công nhân và viên chức, sau đó mới đến chương trình sản xuất. Trong các xí nghiệp đã tổ chức "các tổ công tác", "các ủy ban cách mạng văn hóa" chuyên làm công tác chính trị. Trách nhiệm của "các tổ lãnh đạo sản xuất" chỉ nằm trong phạm vi thực hiện kế hoạch sản xuất. Nhưng hoạt động của "các tổ lãnh đạo sản xuất" không đạt được mục đích của mình, bởi vì công nhân bỏ việc hàng loạt và đã kéo ra thành phố để thiết lập "các quan hệ cách mạng", nhiều kỹ sư, kỹ thuật viên, những cán bộ chỉ đạo kinh tế có kinh nghiệm bị coi là "những tên xét lại" và đã bị đuổi ra khỏi xí nghiệp. Trong tình hình trật tự xã hội rối loạn, những chỉ thị và lời kêu gọi của chính quyền mới về chấp hành kỷ luật sản xuất, không làm hư hỏng thiết bị, bảo đảm 8 giờ làm việc, chấp hành nội quy lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm đều không có tác dụng.
Phải thừa nhận rằng trong những năm gần đây ban lãnh đạo Trung Quốc có thi hành những biện pháp khẩn cấp nhằm bình thường hóa hoạt động của các cơ quan quản lý kinh tế ở Trung ương và địa phương, và những vấn đề kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân sau một thời gian dài bị xếp lại đã được đem ra thảo luận tại phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 8 – tháng 9 năm 1970). Kế hoạch 5 năm lần thứ ba mà nhiệm vụ không được công bố đã kết thúc vào năm 1970. Năm 1970 đã được công bố là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm lần thứ tư, và trong nước người ta lại tăng cường tìm kiếm các biện pháp phát triển kinh tế để có thể biến năm đó thành năm phát triển sản xuất "nhanh như tên bắn".
Trình độ nhận thức non kém học thuyết Mác – Lênin, sự coi nhẹ vai trò của nhân tố kinh tế, và đánh giá quá cao vai trò của các nhân tố chủ quan, của các biện pháp hành chính đã thể hiện tập trung trong đường lối "chính trị là thống soái". Theo đường lối do ban lãnh đạo Trung Quốc vạch ra đó, "đấu tranh tư tưởng và chính trị bao giờ cũng là sức mạnh chỉ huy mọi hành động" (9). Tư tưởng về "sức mạnh vạn năng" của chính trị đã phát triển do sự tuyệt đối hóa vai trò tăng lên trong thực tế của nhân tố chủ quan dưới chủ nghĩa xã hội của nhóm Mao. Nhưng nếu chủ nghĩa Mác – Lênin gắn vai trò tăng lên của nhân tố chủ quan với việc tổ chức và thu hút quần chúng nhân dân rộng rãi vào hoạt động tích cực, có ý thức, thì những người theo Mao hạn chế nhân tố chủ quan vào việc thực hiện vô ý thức, vô điều kiện ý chí của một người.
Do sao chép nguyên xi một cách thiếu suy nghĩ luận đề của Mác về tư tưởng trở thành lực lượng vật chất khi nó được quần chúng nắm lấy (luận đề mà Mao đưa ra gắn chặt với quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, theo quan điểm này thì không phải tư tưởng thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà là những yêu cầu kinh tế xã hội khách quan của sự phát triển), những người theo Mao đề ra đường lối "đưa tư tưởng của Mao Trạch Đông vào ý thức của công nhân và nông dân, làm thay đổi tinh thần của người lao động, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất to lớn" (10). Do lấy quan điểm sau đây của Mao Trạch Đông làm căn cứ: nhân dân Trung Quốc "là tờ giấy trắng" trên đó "không hề có cái gì", nhưng "có thể viết lên đó những chữ đỏ nhất, hiện đại nhất, có thể vẽ lên đó những bức tranh đẹp nhất, hiện đại nhất", những người lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc cho rằng nhân dân có thể tiếp nhận một cách dễ dàng bất kỳ một tư tưởng nào, những tư tưởng đó khi đã được họ học thuộc lòng như vẹt, sẽ biến thành "sức mạnh vật chất vĩ đại". Nhận thức như vậy đối với một trong những vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật cho phép những người theo Mao bổ sung thêm cho nhân tố chủ quan, đặc biệt sự cưỡng bức chính trị và ý chí, vai trò quyết định trong lịch sử, bất chấp những điều kiện khách quan. Trên thực tế, lập trường đó dẫn đến chủ nghĩa phiêu lưu trong chính sách kinh tế, giải quyết mọi vấn đề kinh tế, xã hội bằng những biện pháp tiến hành các "cuộc nhảy vọt" liên tục, và các "cuộc cách mạng không ngừng".
Quan điểm mácxít – lêninnít về quan hệ giữa chính trị và kinh tế được xây dựng trên cơ sở thừa nhận khả năng ước chế của chính trị như kiến trúc thượng tầng đối với chế độ kinh tế của xã hội "chính con người làm ra lịch sử của mình, nhưng trong hoàn cảnh nhất định của họ, trên cơ sở những mối quan hệ tồn tại thực tế, trong đó những điều kiện kinh tế, dù rằng những điều kiện khác – chính trị và tư tưởng – tác động mạnh đến chúng, cuối cùng vẫn là quyết định hết thảy và hình thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển và chỉ riêng nó làm rõ được quá trình phát triển đó" (11). Chính trị cuối cùng do kinh tế, nghĩa là do sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất quyết định. Do kinh tế quy định, nhưng chính trị đồng thời là công cụ sắc bén, tác động tích cực vào quá trình phát triển kinh tế, thúc đẩy hoặc ngược lại kìm hãm sự phát triển đó. Do đó, sự đúng đắn của đường lối chính trị, nghĩa là đường lối đó được xây dựng trên cơ sở tính toán sáng suốt lực lượng các giai cấp, cũng như các điều kiện kinh tế và các khả năng hiện thực để phát triển kinh tế có kết quả, có tầm quan trọng lớn lao.
Sự cần thiết phải có quan điểm chính trị đúng đắn để giải quyết một vấn đề kinh tế nào đó thể hiện rất rõ trong luận điểm nổi tiếng của Lênin về vai trò hàng đầu của chính trị đối với kinh tế. Xuyên tạc luận đề này của Lênin, những người theo Mao giải thích vai trò của chính trị theo ý mình, họ tuyệt đối hóa vai trò của chính trị, coi cưỡng bức chính trị như một biện pháp giải quyết mọi vấn đề kinh tế, bất kể những điều kiện khách quan đã chín muồi hay chưa.
Sau khi giải quyết vấn đề chính quyền, vận mạng của chủ nghĩa xã hội trong bất kỳ nước nào đều phụ thuộc vào công cuộc xây dựng lại nền kinh tế trên cơ sở mới, vào việc giành thắng lợi trong lĩnh vực kinh tế. Chinh vì vậy Lênin đã viết rằng, nhiệm vụ quản lý được đưa lên hàng đầu trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một đặc điểm, rằng "lần đầu tiên trong lịch sử cận đại của các dân tộc văn minh" đây là một sự quản lý, trong đó cái có ý nghĩa trọng đại hơn cả không phải là chính trị mà là kinh tế: "chính cơ sở, chính thực chất của chính quyền xô–viết, cũng như chính thực chất của sự quá độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa lại là ở chỗ các nhiệm vụ chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với các nhiệm vụ kinh tế (12).
Việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế được đưa lên đầu trong nhà nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng, Nhà nước và toàn dân nắm chắc thực tiễn to lớn hàng ngày, có năng lực trong công việc. Hiện nay ở Trung Quốc các phong trào quần chúng được chỉ đạo theo tinh thần "chính trị là thống soái", hình như các cuộc hội họp, mít–tinh hàng ngày được tổ chức để đưa những khẩu hiệu chối tai, tán tụng "chủ tịch Mao vĩ đại" thông qua trách nhiệm hoặc tổng kết việc nghiên cứu các trước tác của Mao, thực tế đã thay thế hoạt động kinh tế cần cù, cẩn thận hàng ngày. Khi phân tích kinh nghiệm và thực tiễn nước Nga, Lênin đã nói về sự cần thiết phải đấu tranh với những hiện tượng như bệnh ba hoa chính trị, chú ý quá đáng công tác tuyên truyền chính trị, ít quan tâm đến xây dựng đời sống mới. Người đã kêu gọi biến các cuộc đại hội, hội nghị không phải thành những tổ chức mít–tinh, mà thành những tổ chức kiểm điểm các thành quả kinh tế, thành những tổ chức, trong đó chúng ta có thể thực sự học tập việc xây dựng kinh tế" (13).
Việc ban lãnh đạo Trung quốc coi thường các nhân tố kinh tế, âm mưu đi ngược lại với những điều kiện phát triển kinh tế khách quan, thay hoạt động xây dựng chủ nghĩa xã hội thận trọng, cần mẫn bằng câu nói cách mạng suông là nguyên nhân của những sự đổ vỡ kinh tế to lớn ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, do đó những khả năng và những ưu thế của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đã không thể trở thành hiện thực, còn nhiệt tình cách mạng và cao trào sáng tạo của quần chúng bị phung phí một cách vô ích.
Cần nhận thấy rằng, những sự tính toán sai làm chủ quan trong lãnh đạo kinh tế làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển sản xuất đã có ở Trung Quốc trước năm 1958. Trong thời kỳ khôi phục (1950–1952), đó là những khó khăn của sự ra đời một xã hội mới do thiếu mọi kinh nghiệm trong công tác.
Trong các mặt thiếu sót và thiếu hoàn thiện của công tác lãnh đạo kinh tế, những người lãnh đạo Trung Quốc đã nhìn thấy một cách đúng đắn một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng thiếu phối hợp tốc độ phát triển của các ngành, của những sự mất cân đối bộ phận trong nền kinh tế quốc dân ở thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. "Nguyên nhân xuất hiện những thiếu sót và khuyết điểm này không tách khỏi những thiếu sót trong công tác kế hoạch do chưa bao quát được toàn diện, chưa điều tra nghiên cứu sâu sắc, thiếu chính xác và thiển cận. Tất cả các mặt của nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất hữu cơ với nhau. Nhưng chúng ta vẫn chưa nghiên cứu thật đầy đủ quy luật phát triển cân đối, có kế hoạch nền kinh tế quốc dân, chúng ta vẫn chưa nắm được một cách toàn diện tình hình kinh tế, chưa tiên đoán được tình hình" (14). Nhưng nếu trước đây ở Trung Quốc người ta đã có thái độ phê phán những sai lầm, thiếu sót chủ quan trong công tác, thì những năm gần đây, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, mặc dù có những thiếu sót và những tính toán sai lầm nghiêm trọng trong chính sách kinh tế không phải chỉ do thiếu kinh nghiệm mà còn do thái độ coi thường những yêu cầu của các quy luật khách quan, lại tuyên bố rằng: "nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng soi đường, thành tích của chúng ta bao giờ cũng là chủ yếu, còn thiếu sót bao giờ cũng là thứ yếu, mối tương quan giữa các thành tích và thiếu sót bao giờ cũng là tỷ lệ chín (ngón tay) trên một (ngón tay)" (15). Ngay cả khi những hậu quả nghiêm trọng của chính sách "đại nhảy vọt" và của "công xã nhân dân" đối với nền kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu lộ rõ, Chu Ân Lai vẫn xác nhận rằng, đó là "những thành tích đạt được do Đảng đã thực hiện lý thuyết về cách mạng không ngừng và lý thuyết phát triển cách mạng theo các giai đoạn" (16). Như vậy là sự kiện trong đó đất nước lâm vào cảnh cơ cục sau "phong trào cách mạng không ngừng", còn nhân dân lao động thì thiếu thốn, đói kém, lao động khổ cực, phơi trần những hậu quả của chính sách "đại nhảy vọt" và "công xã nhân dân", đã không làm các nhà lãnh đạo Trung Quốc bận tâm.
Những quyết định chiến lược triển khai liên tiếp ở Trung Quốc từ cuối những năm 50 được những người theo Mao cụ thể hóa thành công thức Trung Quốc "cách mạng không ngừng". Phương án "cách mạng không ngừng" mới này là biểu tượng của các đường lối chủ quan, của những quyết định duy ý chí được ban lãnh đạo Trung Quốc thay đổi liên tiếp và nhanh chóng.
Nếu trong những năm đầu tiên sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nhân dân Trung Quốc đã có những nỗ lực to lớn trước hết nhằm hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của giai đoạn cách mạng dân chủ, và sau đó nhằm củng cố dần dần nhất quán và có kế hoạch khu vực xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế, thì từ nửa cuối của những năm 50 trở đi, chính sách kinh tế của ban lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu xây dựng theo kiểu không một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nào của cách mạng xã hội chủ nghĩa được thực hiện nhất quán đến cùng. Hợp tác hóa "vượt thời hạn", và sau đó "công xã hóa" ngay các hợp tác xã vẫn chưa được củng cố này; quy mô to lớn chưa từng thấy nhưng cũng rất tản mạn của xây dựng cơ bản, tình hình không tập trung xây dựng các đối tượng công nghiệp đầu mối; việc thi hành đường lối "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" và cuộc truy nã những người hoạt động trong bộ máy Nhà nước, trong Đảng, những người làm kinh tế mà quan điểm của họ không trùng hợp hoặc trái ngược với tư tưởng của Mao Trạch Đông trong suốt quá trình "phong trào chống những phần tử phái hữu" tiếp theo sau phong trào trên, tất cả những việc làm đó được Trung Quốc coi là những nhiệm vụ "cách mạng không ngừng" được giải quyết một cách kịp thời, là "thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên các mặt trận kinh tế, chính trị, tư tưởng". Trên thực tế, ban lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ ra không thể phân biệt nổi những bước cải tạo dân chủ và chủ nghĩa xã hội đúng đắn và mạnh dạn với "những bước nhảy phiêu lưu của chủ nghĩa xã hội phi giai cấp, phi nhân dân, của chủ nghĩa vô chính phủ" (17).
Trong các quyết nghị của phiên họp toàn thể thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đại hội đại biểu toàn quốc khóa VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc có đoạn viết: "Chúng ta là những người bảo vệ học thuyết Mác – Lênin về cách mạng không ngừng, chúng ta cho rằng "vạn lý trường thành Trung Quốc", không nằm và không thể nằm giữa cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời chúng ta là những người bảo vệ học thuyết Mác – Lênin về phát triển cách mạng theo các giai đoạn, chúng ta cho rằng những giai đoạn phát triển khác nhau phản ánh những sự thay đổi về chất các sự vật và hiện tượng, rằng không được lẫn lộn những giai đoạn khác nhau về chất này" (18). Lời nói như vậy, còn việc làm thì thế nào? Nếu xuất phát từ những quan niệm lý luận và thực tiễn Trung Quốc trong những năm gần đây thì hoàn toàn rõ như ban ngày là: Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung quốc không những không xây dựng "vạn lý trường thành Trung Quốc vĩ đại" giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, mà còn bộc lộ rõ sự đi ngược lại hoàn toàn chủ nghĩa Mác – Lênin,trong việc xác định các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa cộng sản, lúc đầu họ âm mưu thông qua công xã nhân dân để đưa xã hội Trung Quốc lên thẳng chủ nghĩa cộng sản từ một nền kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ, và sau đó, do thấy rõ sự uổng công vô ích của những tham vọng trên, họ lại phủ nhận hoàn toàn khả năng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong nhiều thế hệ trước khi nó thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới. Còn đối với những sự thay đổi về chất được nói đến trong cuộc họp toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 thì ở Trung Quốc hiện nay, trong mỗi giai đoạn mới "của cách mạng không ngừng" chúng vẫn hoàn toàn chỉ là những sự suy luận, và trùng hợp một cách dễ dãi khác thường với tư tưởng phát triển theo trình tự của Mao.
Đường lối "ba ngọn cờ hồng" đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc thụt lùi hàng bao nhiêu năm, nhưng ban lãnh đạo Trung Quốc đã không chịu rút bài học kinh nghiệm từ sự phá sản của cuộc thực hiện đường lối đó; chủ nghĩa duy ý chí, chủ nghĩa chủ quan trong công tác lãnh đạo kinh tế đã trở thành cương lĩnh hành động cơ bản của những người lãnh đạo Trung Quốc hiện nay – những người đang âm mưu làm cho nhân dân Trung Quốc thấm nhuần sự cần thiết phải "đặt cách mạng văn hóa lên địa vị thống soái" đối với sản xuất.
Luận đề "chính trị là thống soái" nêu ra trong những năm "đại nhảy vọt", chừng nào đó đã bị đẩy xuống hàng thứ hai trong những năm "điều chỉnh", lại ngân vang hơn khi "cách mạng văn hóa" nổ ra. Cuộc đấu tranh tư tưởng chính trị quyết liệt, đẫm máu đã đẩy toàn bộ các vấn đề kinh tế xuống hàng thứ yếu. Tư tưởng về sự không thay đổi của những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, về sự tăng cường đấu tranh giai cấp trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được đem áp dụng vào thực tế. Cuộc "cách mạng văn hóa" do những người theo Mao xúi giục được họ gọi là "nhiệm vụ tiếp theo của cách mạng không ngừng đã đưa ra một cách kịp thời". Trên thực tế âm mưu chính trị đó nhằm gạt bỏ tất cả những ai chống lại dưới mọi hình thức việc thực hiện trong thực tế hoặc việc làm cho lưu danh muôn thuở những tư tưởng dân tộc, phản khoa học của những người lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc. Mặc dù cố gắng lý tưởng hóa chủ nghĩa Mao, mặc dù ngụy trang dưới nhãn hiệu "chủ nghĩa Mác", giới thiệu cuộc "cách mạng văn hoá" như là "một trong những giai đoạn cách mạng nhất" của quá trình "cách mạng không ngừng", nhưng trong ký ức của những người chân chính, "cách mạng văn hóa" vẫn là một trong những trang sử đen tối nhất của lịch sử Trung Quốc.
___
Chú thích:
(1). "Khóa họp lần thứ 2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc", Mát-xcơ-va, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1958, trang 60.
(2). Tài liệu dẫn trên, trang 61.
(3). Tài liệu dẫn trên, trang 1.
(4). "Hội nghị lần thứ hai Đại hội đại biểu toàn quốc khóa VIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc", trang 41 – 42.
– Chu Ân Lai: 10 năm vĩ đại, Bắc Kinh, 1959, trang 33.
– Chu Ân Lai: "Về việc điều chỉnh những chỉ tiêu cơ bản của kế hoạch kinh tế quốc dân năm 1959 và phát triển hơn nữa phong trào đẩy mạnh sản xuất và chấp hành thể chế kinh tế", Bắc Kinh, 1959, trang 41–42.
(5). "Hội nghị lần thứ hai Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá VIII", trang 58.
(6). C. Mác – Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 23, trang 10 (tiếng Nga).
(7). Lênin, Toàn tập, tập 16, trang 23 (tiếng Nga).
(8). C. Mác – Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 20, trang 116.
(9). "Hội nghị lần thứ hai Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc khoá VIII", trang 59.
(10). "Nhân dân nhật báo", 1–7–1966.
(11). C. Mác – Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 39, trang 175.
(12). V. I. Lênin, Toàn tập, tập 36, trang 130 (tiếng Nga).
(13). V. I. Lênin, Toàn tập, tập 42, trang 157.
(14). "Tài liệu của Hội nghị lần thứ ba Hội nghị đại biểu nhân dân toàn quốc", Mát-xcơ-va, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1956, trang 69.
(15). "Hồng kỳ", 1959, số 16 (nguyên bản: chữ "ngón tay" không để ở trong ngoặc – người dịch).
(16). Chu Ân Lai, 10 năm vĩ đại, trang 29.
(17). V. I. Lênin, Toàn tập, tập 10, trang 15.
(18). "Tài liệu Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 Đại hội VIII Đảng Cộng sản Trung quốc", trang 27–28.
Nguồn: E. Koóc–Ba–Sơ: "Lý thuyết" kinh tế của chủ nghĩa Mao, nhà xuất bản Sách chính trị, Mát–xcơ–va, 1971 (tài liệu tham khảo Tạp chí thông tin lý luận, in tại Nhà in Tạp chí cộng sản.
Nhận xét
Đăng nhận xét