Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội - Moni Guha

 

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội - Moni Guha 


   Bài báo này được trình bày thay mặt cho Moni Guha tại một "tuần nghiên cứu" được tổ chức vào năm 1993 bởi Viện Nghiên cứu Cao cấp Ấn Độ tại Shimla.


__________


Giới thiệu:

   Chủ đề mà chúng tôi nghiên cứu là "Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội". Nhưng chủ nghĩa xã hội không bao giờ sụp đổ mà nó đã bị thay thế. Đây là một sự thật lịch sử đang bị phủ nhận. Những gì sụp đổ vào năm 1990 ở Đông Âu và năm 1991 ở Liên Xô là chủ nghĩa xã hội thị trường của các chế độ xét lại, chứ không phải chủ nghĩa xã hội mác-xít của chế độ chuyên chính vô sản. Và mọi người đều biết rằng chủ nghĩa xã hội thị trường và chủ nghĩa xét lại là hệ tư tưởng và thực tiễn tư sản ngụy trang thành chủ nghĩa Mác. Tất nhiên, một số người mác-xít tự xưng, ở đây và những nơi khác, vẫn coi Liên Xô là một nước xã hội chủ nghĩa bất chấp ban lãnh đạo xét lại của nó. Họ tuyên bố chống chủ nghĩa xét lại Khrushchevite, nhưng lại im lặng về mối quan hệ giữa chế độ chuyên chính vô sản và giới lãnh đạo xét lại, đồng nhất chủ nghĩa xã hội thị trường - sản phẩm của bọn xét lại cai trị Liên Xô - với chủ nghĩa xã hội mác-xít không có ý nghĩa gì khác ngoài việc biện minh cho cả chủ nghĩa xã hội thị trường và chủ nghĩa xét lại, hoặc tệ hơn, làm lợi cho giai cấp tư sản. Khi một người nói về những vấn đề của chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa xã hội thị trường ở Liên Xô như những vấn đề của chủ nghĩa xã hội mác-xít, họ tìm cách bôi nhọ chủ nghĩa xã hội mác-xít theo cùng một cách mà Khrushchev đã làm với chủ nghĩa xã hội mác-xít. Việc bọn xét lại chiếm lấy đảng và nhà nước không có ý nghĩa gì khác ngoài sự xoá bỏ chế độ chuyên chính vô sản. Do đó, chủ nghĩa xã hội mác-xít là một nạn nhân. Bọn xét lại lên nắm quyền chỉ có nghĩa là hệ tư tưởng và thực tiễn tư sản đã giành được ưu thế, quyền lãnh đạo vô sản đã bị lật đổ. Nó có nghĩa là tái lập các mối quan hệ tài sản có lợi cho chế độ tư hữu bóc lột. 


   Như vậy, chủ đề nghiên cứu của chúng tôi lẽ ra phải được đặt tên là “Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội thị trường”. Nó sẽ khoa học và phù hợp với thực tế lịch sử.


 Tuy nhiên, ở đây tôi sẽ thảo luận về chính sách kinh tế của Liên Xô trong hai thời kỳ: thời kỳ của chủ nghĩa xã hội mác-xít và thời kỳ của chủ nghĩa xã hội thị trường, giới hạn trong mối quan hệ của Liên Xô với thị trường thế giới và chủ nghĩa đế quốc.


   Tôi hy vọng rằng vấn đề sự sụp đổ sẽ được làm rõ trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi.


__________


1. Chủ nghĩa xã hội trong một nước và thị trường thế giới

   Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười đã chấm dứt quy luật không phân chia của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Hệ thống kinh tế mới, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ra đời. Khi công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nhà nước xô-viết non trẻ đang ở giai đoạn đầu, Lênin đã nói:


   "Chúng ta đang gây ảnh hưởng lên cách mạng quốc tế thông qua chính sách kinh tế của chúng ta. Một khi giải quyết được vấn đề này, chúng ta chắc chắn và cuối cùng sẽ giành chiến thắng trên quy mô quốc tế." (Toàn tập, tập 32, trang 439)


   Những lời tiên tri của Lênin có thành hiện thực không? Chính sách kinh tế của Liên Xô có "chắc chắn và cuối cùng sẽ giành chiến thắng trên quy mô quốc tế" không?


   Nó thực sự đã thắng lợi.


   Chính sách kinh tế của Lênin là gì?


   Với sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô-viết vào năm 1922, Lênin đã đưa ra ba chủ trương cơ bản, (1) một kế hoạch toàn diện cho nền kinh tế quốc dân, (2) Sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, và (3) Tăng trưởng độc lập với trọng tâm là các ngành công nghiệp nặng. Sau khi Lênin qua đời, Stalin đã làm theo những hướng dẫn này, cụ thể hóa và thực hiện chúng. Ông theo đuổi chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung tạo ra sự tiến bộ là hầu như chỉ phụ thuộc vào các nguồn lực và thị trường trong nước. Ngoại thương, hay thị trường nước ngoài, có thể được chú ý với sự quan tâm đặc biệt, đóng một vai trò phụ và do đó, một vai trò nhỏ trong hoạt động phát triển, vì thương mại chủ yếu chỉ giới hạn trong việc nhập khẩu một số công nghệ từ thị trường của thế giới đế quốc. Xuất khẩu bị coi là tội lỗi vì những lý do rõ ràng, trong khi nhập khẩu nói chung được ưu tiên, vì nó có lợi cho việc cải thiện cân bằng vật chất và cơ sở công nghệ của nền kinh tế Liên Xô. Cũng nên lưu ý rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa độc quyền kiểm soát ngoại thương. Nhìn chung, ngoại thương hoàn toàn không phải là một lĩnh vực năng động của nền kinh tế Liên Xô, ngay cả trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội ở một số nước, cho đến khi Stalin qua đời.


   Tại sao khu vực ngoại thương hay thị trường nước ngoài không phải là một lĩnh vực năng động?


   Ai cũng biết rằng chủ nghĩa tư bản phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế có tính chất tư bản chủ nghĩa, đó là tính chất bóc lột và cưỡng bức. Những quan hệ sản xuất quốc tế như vậy, một khi xuất hiện, sẽ có được sự độc lập nhất định và gây ảnh hưởng to lớn như một quy luật khách quan, lên sự phát triển nội tại của các quốc gia, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Trong thế giới tư bản, điều này làm tăng sự phát triển không đồng đều giữa các nước, một số nước vượt xa các nước khác, xuất hiện các nước cai trị và các nước lệ thuộc, và các nước thuộc loại sau, theo cách này hay cách khác, lệ thuộc vào các nước thuộc loại trước. Về bản chất, quá trình cưỡng bức và bóc lột này đã tạo ra sự phân công lao động quốc tế, theo đó thế giới được chia thành các nước công nghiệp tiên tiến và các nước yếu kém với nền công nghiệp lạc hậu, và theo đó sự lạc hậu của các nước thuộc loại sau được duy trì. Một nước xã hội chủ nghĩa không thể là đối tác của quá trình cưỡng bức và bóc lột này của quan hệ thương mại quốc tế.


   Nhận thức được quá trình này, Liên Xô đã hợp tác một cách rất hạn chế, nhưng không sáp nhập vào thị trường thế giới do đế quốc thống trị trong lĩnh vực cạnh tranh thông qua xuất nhập khẩu hàng hóa hoặc tư bản. Đó là lý do tại sao chính sách kinh tế của Liên Xô độc lập nhưng không phải là tự cấp tự túc. Một nước tham gia vào quá trình cưỡng bức và bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thế giới, được hưởng lợi từ thị trường tư bản cạnh tranh thì không thể là một nước xã hội chủ nghĩa.


   Hãy để tôi trích dẫn một tuyên bố chính sách của Liên Xô, ban hành năm 1938, về các đối tượng xuất nhập khẩu. Nó nói rằng:


   "…Nhập khẩu vào Liên Xô được lên kế hoạch để giúp giải phóng đất nước khỏi nhập khẩu một cách nhanh chóng…"


   "…Để thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, cần nhập khẩu những thiết bị hoàn thiện nhất và những máy móc mới nhất để chế tạo ra những "gã khổng lồ", để tự sản xuất được những máy móc đó nhằm bảo đảm sự độc lập về kỹ thuật kinh tế khỏi các nước tư bản..."


   "Nhiệm vụ cơ bản của ngành xuất khẩu Liên Xô là thu dự trữ ngoại hối. Liên Xô xuất khẩu hàng hoá chỉ để thanh toán cho số lượng hàng hóa nhập khẩu tương đối nhỏ. Vì vậy số lượng hàng xuất khẩu được xác định bởi kế hoạch, kế hoạch này được xây dựng với khối lượng hàng nhập khẩu theo kế hoạch." (D. D. Mishustin, Vneshniaia Torgovlia Sovietskogo Souza, Liên Xô, Moscow, 1938, tr. 9).


   Suy ra từ tuyên bố chính sách ở trên rằng Liên Xô trong suốt thời kỳ chủ nghĩa xã hội mác-xít và Stalin, cho đến khi ông qua đời, đã nhấn mạnh đến một nền thương mại cân bằng với số lượng xuất khẩu và nhập khẩu rất hạn chế. Thương mại tỏ ra ít mang tính thương mại hơn nhiều, vì nó không khai thác ngoại thương vì "lợi nhuận". Do đó, vấn đề xuất nhập khẩu vốn ít nảy sinh trong nền kinh tế Liên Xô.


   Đây là chính sách kinh tế của Liên Xô thời kỳ chủ nghĩa xã hội trong một nước trong mối quan hệ với nền kinh tế thế giới. Nhận thức được điều này, bạn rất có thể sẽ thấy rằng tính ưu việt của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không phải là ưu thế trong cạnh tranh thương mại trên thị trường thế giới. Đó là sự vượt trội về chính trị, kinh tế và đạo đức của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa so với hệ thống kinh tế tư bản trong vấn đề bóc lột sức lao động con người.


2. Chủ nghĩa xã hội trong một số nước

   Sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân đòi hỏi sự hợp tác trong lĩnh vực kinh tế để phe xã hội chủ nghĩa được củng cố. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là sẽ dẫn đến bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách kinh tế độc lập của Liên Xô - chính sách không sáp nhập vào quá trình cưỡng bức và bóc lột của nền kinh tế thế giới do bọn đế quốc thống trị.


 Để xác định chính sách kinh tế của Liên Xô đối với các nước dân chủ nhân dân, một hội nghị đại biểu từ các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu và Liên Xô đã được tổ chức vào tháng 1 năm 1949 và một Hội đồng tương trợ kinh tế (CMEA) được thành lập. 


   Trong hội nghị này, các nước thành viên CMEA có sự khác biệt rất lớn về mức độ công nghiệp hóa. Điều này, ở một khía cạnh nào đó, chỉ ở một khía cạnh nào đó, giống với mối quan hệ kinh tế giữa các nước cộng hòa thuộc Liên Xô. Các vùng đất biên giới và các thuộc địa của nước Nga Sa hoàng, nơi trước cách mạng còn vô cùng lạc hậu so với các vùng trung tâm, đã trở thành các nước cộng hòa công-nông nghiệp hùng mạnh dưới chủ nghĩa xã hội. Chính sách xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức để bảo đảm khắc phục tình trạng lạc hậu, nâng cao trình độ phát triển kinh tế, đạt mức độ tiên tiến nhất, với sự lớn mạnh vượt bậc của lực lượng sản xuất. Chỉ có chính sách này mới tạo được niềm tin và uy tín cho sự hợp tác tự nguyện và có ý thức trên cơ sở bình đẳng.


   Vì vậy, nhiệm vụ chính của các nước CMEA là xoá bỏ sự không cân xứng giữa các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa.


   Những thành tựu chính của CMEA trong giai đoạn 1949-1953:


(1) Ký kết các hiệp định thương mại hai bên dài hạn, được thông qua tại kỳ họp thứ hai của CMEA vào tháng 8 năm 1949.


(2) Cung cấp miễn phí các tư liệu kỹ thuật và trao đổi cán bộ khoa học kỹ thuật giữa các nước thành viên để trao đổi kinh nghiệm, các nước này cùng có lợi, những nước lạc hậu nhất sẽ được giúp công nghiệp hóa và phát triển kinh tế.


(3) Trao đổi thương mại và kinh tế giữa bất kỳ quốc gia thành viên nào được thực hiện KHÔNG PHẢI TRÊN CƠ SỞ GIÁ CẢ THẾ GIỚI, mà trên cơ sở giá ước tính sau khi phân tích kỹ lưỡng.


(4) Các nước thành viên CMEA từ chối hợp tác với "Viện trợ Marshal" và đồng ý không sáp nhập vào quá trình cưỡng bức và bóc lột của thị trường thế giới thống trị bởi đế quốc.


   Kết quả của chính sách này, khối lượng sản xuất công nghiệp năm 1954 so với năm 1938 (trước chiến tranh) đã tăng lên như sau: Ba Lan - 4,6 lần; Tiệp Khắc - 2,3 lần; Rumania - 4,7 lần; CHDC Đức - gần 2 lần (so với năm 1939); Bulgaria - 4,9 lần và Hungary - 3,5 lần (so với năm 1939).


   Thực tế là do sự phong tỏa và bất hợp tác của nền kinh tế thế giới nên một thị trường xã hội chủ nghĩa thế giới song song đã ra đời. Chúng tôi không chắc chuyện gì sẽ xảy ra nếu Stalin còn sống. Stalin qua đời vào tháng 3 năm 1953.


   Bạn đã thấy rằng tính ưu việt của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không phải là ưu thế trong cạnh tranh thương mại trên thị trường thế giới, mà là ưu thế về chính trị, kinh tế và đạo đức so với hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Ngay cả trong những năm 1930 khi thế giới tư bản chìm trong khủng hoảng sâu sắc, Liên Xô vẫn thực hiện kế hoạch 5 năm mà không bị khủng hoảng và đã giải quyết được nạn thất nghiệp. Trong những năm 1930, chính sách kinh tế của Liên Xô đã thể hiện tính ưu việt của nó so với kinh tế tư bản chủ nghĩa, được chứng minh bằng một số ví dụ:


   Bạn biết tại sao và làm thế nào Keynes đã vội vàng sửa chữa, cải tiến lý thuyết kinh tế tư sản về trạng thái cân bằng tự động giữa cung và cầu, cái mà Marx đã phê phán trong cuốn Tư bản từ rất lâu rồi. Keynes phải thừa nhận rằng sự can thiệp của nhà nước vào việc quản lý nền kinh tế là cần thiết. Bạn biết tại sao và làm thế nào lý thuyết "Nền kinh tế hỗn hợp" của giai cấp tư sản trở thành trật tự thời nay. Bạn biết rằng ảnh hưởng to lớn của các kế hoạch 5 năm thành công của Liên Xô, cách khối vững chắc của các nhà kinh tế tư sản bị tan rã và xáo trộn và nhiều trường phái khác nhau, viz. Keynesian, Robinsonian và Sweezy-Baran, v.v. nổi lên cùng với một số đặc trưng của nền kinh tế mác-xít. Lênin nói:


   "Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới. Chủ nghĩa cộng sản là năng suất lao động cao hơn - so với năng suất lao động hiện có dưới chủ nghĩa tư bản - của những người lao động tự nguyện, có ý thức giai cấp và đoàn kết sử dụng kỹ thuật tiên tiến". (Toàn tập, tập 29, trang 427).


   Ngay cả các nhà kinh tế tư sản cũng không thể phủ nhận tốc độ tăng trưởng năng suất lao động tương đối cao ở Liên Xô trong thời kỳ Stalin và chủ nghĩa xã hội mác-xít. Từ năm 1930 đến năm 1940, tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng công nghiệp trung bình của Liên Xô là 16%. Trong khi đó, trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Hoa Kỳ từ năm 1870 đến năm 1880, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của ngành công nghiệp chế tạo chỉ là 7%.


   Tốc độ tăng năng suất lao động của Liên Xô cũng cao hơn. Ở Mỹ năng suất lao động năm 1949 cao hơn 113% so với năm 1939, trong khi ở Liên Xô năm 1950 cao hơn 137% so với năm 1940 và năm 1953 cao hơn 144% so với năm 1950 .


   Sau đó là gì? Stalin và chủ nghĩa xã hội mác-xít không phải là nguyên nhân của sự sụp đổ. Stalin và chủ nghĩa xã hội mác-xít đã biến Liên Xô cùng với các nước dân chủ nhân dân trở thành cường quốc trên thế giới và chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Vào thời Stalin, công nghiệp hóa đất nước và tập thể hóa nông nghiệp đã được thực hiện, và một gia đình đa dân tộc thực sự, gia đình xô-viết của các dân tộc xô-viết đã được thành lập. Stalin và chủ nghĩa xã hội mác-xít đã thức tỉnh Liên Xô, đưa nước này thoát khỏi nghèo đói và trở thành một quốc gia tiên tiến trên mọi phương diện và do đó đã thức tỉnh thế giới. Người dân Liên Xô và thế giới đã có một hồi ức sống động và không thể phai mờ về thời kỳ đó, khi không có thất nghiệp, lạm phát cũng như khủng hoảng hay phân hóa xã hội.


   Vì vậy, mấu chốt của sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội là sự dối trá của bọn đệ tử của Goebbles, của những kẻ muốn viết lại lịch sử, xóa bỏ hoàn toàn giai đoạn chủ nghĩa xã hội thị trường ở Liên Xô và Đông Âu khỏi lịch sử.


   Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang chính sách kinh tế của chủ nghĩa xã hội thị trường và sự sụp đổ của nó.


3. Chính sách kinh tế của chủ nghĩa xã hội thị trường

   Chủ nghĩa xã hội thị trường là gì? Nó khác và giống với chủ nghĩa xã hội mác-xít ở chỗ nào? Theo quan điểm tư tưởng-chính trị và kinh tế, lý thuyết chủ nghĩa xã hội thị trường và các biến thể khác nhau của nó, từ thời Proudhon và Dühring, là sự công khai phủ nhận chế độ chuyên chính vô sản và vai trò của nó trong quản lý kinh tế, phủ nhận sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và kế hoạch hoá nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.


   Trong "chủ nghĩa xã hội" của họ, các yếu tố sở hữu tư nhân, thị trường tự do và cạnh tranh thương mại đồng thời tồn tại với các yếu tố sở hữu xã hội và kế hoạch hóa. "Chủ nghĩa xã hội" của họ là một xã hội với một nền kinh tế hỗn hợp hoạt động thông qua sự phối hợp, điều tiết và bổ sung lẫn nhau giữa phân phối tự phát nguồn lực lao động, giá trị vật chất với sự điều tiết của nhà nước đối với quá trình tái sản xuất, giữa sự vận hành tự phát của cơ chế thị trường với sự kế hoạch hoá trực tiếp của nhà nước.


   Đây là những điểm giống và khác nhau. Nó là sự kết hợp giữa các yếu tố tư bản chủ nghĩa và các yếu tố xã hội chủ nghĩa.


   Chủ nghĩa xã hội thị trường ở dạng đầy đủ nhất đã được xây dựng và thực hiện trên thực tế, chính là cái gọi là cải cách ở các nước nơi bọn xét lại lên nắm quyền. Chủ nghĩa này là cơ sở của toàn bộ quá trình khôi phục hoàn toàn chủ nghĩa tư bản và sáp nhập vào hệ thống kinh tế tư bản thế giới, diễn ra ở Liên Xô ngay sau khi Stalin qua đời.


   Việc các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường thay thế chế độ chuyên chính vô sản có thể là "đột ngột" đối với một người nào đó, nhưng đó là một cuộc đấu tranh lâu dài trong Đảng cộng sản Liên Xô. Trong 30 năm sau khi Lênin mất đến khi Stalin qua đời, chủ nghĩa xét lại trong Đảng cộng sản Liên Xô đã trải qua ba giai đoạn phát triển nhất định: Chủ nghĩa Trotsky ở giữa những năm hai mươi; Chủ nghĩa Bukharin vào cuối những năm hai mươi và sự phát triển cuối cùng đã hình thành nên chủ nghĩa Khrushchev. Đại diện xuất sắc nhất sau thời Stalin là N. Voznesensky.


   Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Trotsky, vấn đề chủ nghĩa xã hội thị trường không phải là trọng tâm. Trotsky, tuy vậy, thuộc hàng ngũ những nhà xã hội chủ nghĩa thị trường. Ông tham gia với họ bằng cuốn sách nhỏ "Nền kinh tế Liên Xô trong cơn nguy" (1933), trong đó ông đã tuyên bố rõ ràng rằng “Việc hạch toán kinh tế là không thể tưởng tượng được nếu không có quan hệ thị trường”.


   Chủ nghĩa xã hội thị trường là một vấn đề trong cuộc đấu tranh chống Bukharin. Bukharin và đồng bọn đã ủng hộ sự phát triển tự do của các phần tử tư bản ở cả thành thị và nông thôn, vì thị trường tự do là cơ quan điều tiết nền kinh tế và chống lại quá trình công nghiệp hóa và tập thể hóa xã hội chủ nghĩa.


   Năm 1948, N. Voznesensky, chủ tịch Ủy ban kế hoạch nhà nước, thành viên Bộ chính trị thuộc Ủy ban trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, đã xuất bản cuốn "Nền kinh tế thời chiến của Liên Xô", trong đó ông tuyên bố rằng:


   "Hàng hóa trong xã hội xã hội chủ nghĩa không có mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng, mâu thuẫn đó là đặc trưng của hàng hoá trong xã hội tư bản chủ nghĩa, được tạo ra bởi tư hữu về tư liệu sản xuất". (Trang 97)


   "Quy luật giá trị đã được biến đổi trong nền kinh tế Xô viết". (trang 116), v.v. Ông ta đã tăng cường vai trò, phạm vi của quy luật giá trị trong nền kinh tế Liên Xô mà đáng lẽ ra chúng phải bị hạn chế.


   Voznesensky đã tiến hành một cuộc "cải cách kinh tế" ở khu vực Leningrad, nơi được thiết kế để tăng sản xuất công nghiệp trong thị trường.


   Vào tháng 7 năm 1950, những nhà xã hội chủ nghĩa thị trường đã phải chịu một thất bại khi Voznesensky bị bắt và bị hành quyết. Nhưng vào năm 1953 sau cái chết của Stalin, các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường một lần nữa ngẩng cao đầu và tìm cách củng cố vị thế của mình.


   Đây là lịch sử của sự thay thế chủ nghĩa xã hội mác-xít và chế độ chuyên chính vô sản. Marx đã chỉ ra trong cuốn Tư bản (tập 1) rằng hàng hóa là tế bào kinh tế cơ bản của xã hội tư sản. Vì bọn xét lại Khrushchevite muốn hướng tới xã hội tư sản và khôi phục chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô, chúng phải đưa ra một "lý thuyết" về phạm trù của hàng hóa cho phép nó thoát khỏi mọi giới hạn ngăn cản sự hoạt động tự do và rộng khắp của thị trường trong nền kinh tế Liên Xô. Ngay từ đầu, bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính chất hạn chế của sản xuất hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội, chúng mở rộng sản xuất hàng hóa ra tất cả các sản phẩm của lao động. Vì vậy, chúng phải đưa tư liệu sản xuất, toàn bộ sự lưu thông kinh tế của đất nước vào phạm trù hàng hoá. Và điều này nhằm thực hiện mục đích, như Marx đã viết: "Hình thức hàng hoá của sản phẩm lao động - hay hình thức giá trị của hàng hóa - là hình thức của tế bào kinh tế của xã hội tư sản".


   Việc chấp nhận "kết luận" này, rằng sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội mở rộng cả đến phạm vi sản xuất hàng hoá tiêu dùng và tư liệu sản xuất, nhất định sẽ dẫn đến kết luận khác rằng quy luật giá trị hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất. Quy luật giá trị nhất định sẽ vận hành không hạn chế nếu sản xuất hàng hóa không bị hạn chế.


   Việc chấp nhận luận điểm về sự vận hành không giới hạn, nằm ngoài bất kỳ sự kiểm soát nào của quy luật giá trị, như nó thực sự đã xảy ra, hoàn toàn chấp nhận luận điểm khác về vai trò điều tiết của quy luật giá trị đối với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Việc quy luật giá trị được vận hành không hạn chế trong chủ nghĩa xã hội trên thực tế đã dẫn đến việc hạn chế phạm vi vận hành của quy luật kế hoạch hóa và phát triển cân đối.


   Kết quả là, thay vì sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân lao động, sản xuất ở các nước xã hội chủ nghĩa thị trường lấy lợi nhuận làm động lực duy nhất giống như các nước tư bản.


   Khác nhau cơ bản giữa kinh tế kế hoạch của chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội thị trường là gì?


   Sản xuất công nghiệp diễn ra trong một tổ hợp các doanh nghiệp. Nếu việc sản xuất của các doanh nghiệp được xác định bởi kế hoạch sản xuất quốc dân và, nếu toàn bộ sản phẩm của các doanh nghiệp được phân phối trực tiếp cho các nhu cầu khác nhau, thì quá trình sản xuất - dù nó được chia nhỏ thành các doanh nghiệp thì vẫn KHÔNG, theo quan điểm xã hội, mang tính tư nhân. Nhưng, nếu các doanh nghiệp tự quyết định sản xuất cái gì và nếu tổng sản phẩm của tất cả các xí nghiệp được phân phối cho các nhu cầu khác nhau (giữa các xí nghiệp và các cá nhân người tiêu dùng) thông qua thị trường, thì theo quan điểm xã hội, quá trình sản xuất mang tính tư nhân. Tính chất tư nhân của sản xuất không, chí ít là không, phụ thuộc vào một chứng thư nhỏ trao quyền sở hữu xí nghiệp cho một số cá nhân.


   Dựa vào quan điểm trên, quan hệ giữa các xí nghiệp với nhau sau Cải cách kinh tế mới ở Liên Xô của những nhà xã hội chủ nghĩa thị trường là gì? Chúng ta hãy xem nó mang tính tư nhân hay xã hội.


   "Mọi thứ họ sản xuất ra, họ bán cho doanh nghiệp khác hoặc cho người dân. Do đó, số tiền thu được không chỉ trang trải cho chi phí sản xuất mà còn đảm bảo một tỷ suất lợi nhuận nhất định. Lợi nhuận được sử dụng để thoả mãn các nhu cầu của bản thân doanh nghiệp và nộp một phần vào ngân sách nhà nước" (V. Dayachenko: “Kinh tế lượng, thị trường và kế hoạch”; Nhà xuất bản Thông tấn Novosti; Moscow; 1971).


   Trích dẫn trên ngoài việc nêu rõ tính chất tư nhân của doanh nghiệp, còn nói rằng lợi nhuận do doanh nghiệp khôn khéo kiếm được sẽ được dùng để thoả mãn các nhu cầu của doanh nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp không và không thể đại diện cho việc phân phối tổng lợi nhuận xã hội trên tổng số lao động xã hội cần thiết. Do đó, nó không phải là lợi nhuận xã hội của một xã hội xã hội chủ nghĩa mà là lợi nhuận của các doanh nghiệp tư nhân, giống như lợi nhuận của tư bản.


   "Theo hệ thống kinh tế mới về quản lý và hoạch định kinh tế, mỗi doanh nghiệp tự thương lượng với các đối tác thương mại về quy mô và điều kiện giao hàng, sản xuất và tiêu thụ". (Đã dẫn; trang 87)


   Nghĩa là quá trình sản xuất mang tính tư nhân.


   Ở đây nói lên sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội thị trường. Và chúng ta không nên trình bày vấn đề chủ nghĩa xã hội thị trường như là một vấn đề của chủ nghĩa xã hội mác-xít.


   Sự nhầm lẫn này liên quan đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường của Liên Xô. Bây giờ chúng tôi sẽ chuyển sang các mối quan hệ quốc tế của nó.


   Stalin qua đời năm 1953. Năm 1954, Liên Xô đặt trọng tâm vào lĩnh vực ngoại thương. Kinh tế Chính trị chính thức xuất bản năm 1954 đã nêu:


   "Ngoại thương dưới chế độ xã hội chủ nghĩa được sử dụng để đáp ứng đầy đủ hơn các nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Nó là nguồn lực bổ sung cho phát triển sản xuất và nâng cao khả năng cung ứng của dân số với các đối tượng tiêu dùng".


   Đây là sự bác bỏ hoàn toàn chính sách xã hội chủ nghĩa mà Stalin theo đuổi và dẫn đến việc sáp nhập nền kinh tế Liên Xô vào quá trình cưỡng bức và bóc lột của nền kinh tế thế giới.


   N. N Inozemtsev, Giám đốc Viện Kinh tế thế giới và Quan hệ quốc tế thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, trong bài báo có tựa đề "Chủ nghĩa xã hội và hợp tác quốc tế", kết luận rằng Liên Xô sẽ đạt được "từ việc phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và với các nước tư bản nói riêng" (Pravda, Mátxcơva; 16 tháng 5 năm 1973).


   Liên Xô ký kết các hiệp ước hợp tác kinh tế và thương mại với Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1972 và với Cộng hòa Liên bang Đức vào tháng 5 năm 1973.


   Tất cả những điều này có nghĩa là sự ra vào tự do của tư bản đế quốc - mà nhân dân lao động Liên Xô đã dũng cảm chiến đấu với chúng - trong Liên Xô.


   Bạn nghĩ tại sao lại có sự thay đổi như vậy trong quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước xã hội chủ nghĩa đã có một sự phát triển mang tính lịch sử và vẻ vang nhờ phụ thuộc vào các nguồn lực và thị trường trong nước, sự đổi mới nội bộ và thậm chí là từ chối Viện trợ Marshal ngay cả sau khi nó bị tàn phá nặng nề bởi thế chiến II?


   Vì Liên Xô không còn là một nước xã hội chủ nghĩa nữa, nó là một nước xã hội chủ nghĩa thị trường.


   Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang quan hệ kinh tế của Liên Xô với các nước COMECON và các nước đang phát triển.


   "Phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là phe xã hội chủ nghĩa tự cung tự cấp... Phân công lao động xã hội chủ nghĩa càng phát triển thì cơ hội trao đổi giữa hai hệ thống càng lớn…"


   "Việc giá cả thế giới được sử dụng làm cơ sở trên hết để xác định giá cả trên thị trường xã hội chủ nghĩa cho thấy rằng thị trường xã hội chủ nghĩa và thị trường tư bản chủ nghĩa là một bộ phận của một thị trường thế giới duy nhất". ("Tạp chí Chủ nghĩa Mác trên thế giới"; Sự phân công lao động quốc tế; Tháng 12 năm 1958). Những người mác-xít luôn cho rằng chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ sự phân công lao động đáng nguyền rủa. Marx nói:


   "Với sự phân công lao động mà tiềm ẩn trong đó tất cả những mâu thuẫn này… đồng thời gây ra sự phân phối và thực sự là, sự phân phối bất bình đẳng, cả về số lượng lẫn chất lượng của lao động và sản phẩm lao động, do đó mà quyền sở hữu… sự phân công lao động bao hàm khả năng, nói cho đúng hơn, thực tế là hoạt động trí óc và tay chân - hưởng thụ và lao động, sản xuất và tiêu dùng - dành cho những cá nhân khác nhau và khả năng duy nhất để chúng không đi đến mâu thuẫn nằm ở chỗ phủ định sự phân công lao động". (Hệ tư tưởng Đức)


   Trong khi Marx nói rằng để chấm dứt những mâu thuẫn vốn có trong phân công lao động thì cần phải phủ định bản thân sự phân công lao động, thì những nhà xã hội chủ nghĩa thị trường lại cho rằng “phân công lao động xã hội chủ nghĩa càng phát triển thì cơ hội trao đổi giữa hai hệ thống càng lớn”. Không chỉ vậy. “Lý thuyết” xã hội chủ nghĩa thị trường đó còn nói thêm rằng “phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa” “giải phóng sự phân công lao động khỏi đối kháng” (“Tạp chí Chủ nghĩa Mác trên thế giới”, đã dẫn).


 Đây là điều khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội mác-xít và chủ nghĩa xã hội thị trường.


   Và giá cả thế giới được các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường “sử dụng làm cơ sở trên hết để xác định giá cả” là gì?


 Theo kinh tế học mác-xít, hình thức giá cả thế giới chỉ đặt các nước phát triển vào vị thế bóc lột những nước kém phát triển hơn. Tổng các quan hệ trao đổi giữa một nước phát triển (trao đổi hàng hóa sản xuất ra) với một nước lạc hậu (trao đổi hàng hoá chủ yếu) đã được bọn đế quốc giải quyết một cách có hệ thống nhằm làm bất lợi cho các nước lạc hậu và có lợi cho các nước phát triển. Sự khác biệt về mức năng suất giữa hai loại nước - nước lạc hậu (kém năng suất và kém kỹ năng hơn) và nước tiên tiến (có kỹ năng và năng suất cao hơn) là một thực tế. Kết quả là, nhiều lao động của nước lạc hậu được trao đổi bằng ít lao động của nước phát triển hơn. Đây là cái gọi là "trao đổi bất bình đẳng". Đó là sự trao đổi bất bình đẳng giữa nước phát triển và nước lạc hậu mà giai cấp tư bản (và các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường) ở các nước phát triển thu được lợi nhuận bằng cái giá của người dân ở các nước lạc hậu, ngay cả khi một nước phát triển này bán hàng hoá với giá rẻ hơn một nước phát triển khác. Đó đơn giản và thuần túy là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa.


   Marx đã chú ý đến sự trao đổi bất bình đẳng như vậy:


   "Tư bản đầu tư vào ngoại thương có khả năng mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn, bởi vì, trên hết, cạnh tranh với các mặt hàng được sản xuất ở các nước có cơ sở sản xuất kém hơn khiến cho một nước tiên tiến có thể bán hàng hóa cao hơn giá trị của chúng ngay cả khi với giá rẻ hơn các nước cạnh tranh". (Tư bản, tập 3). Các nhà xã hội chủ nghĩa thị trường của Liên Xô, bác bỏ chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa của Marx là không tham gia và không sáp nhập vào quá trình cưỡng bức và bóc lột của thị trường thế giới, chúng theo đuổi lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa, lấy thị trường thế giới đế quốc làm cơ sở trên hết để xác định giá cả thị trường, với cái giá phải trả là các nước COMECON và các nước Châu Á lạc hậu phải cạnh tranh tư bản chủ nghĩa với các nước đế quốc.


   Như vậy, Liên Xô đã mất tính chất xã hội chủ nghĩa.


   Vậy thì ai là kẻ gây ra sự sụp đổ?


   Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về tất cả những nhà lãnh đạo xét lại đã cai trị Liên Xô trong hơn 40 năm sau cái chết của Stalin, trách nhiệm thuộc về việc từ bỏ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-Lênin, và khôi phục chủ nghĩa tư bản, được khởi xướng bởi Khrushchev tại Đại hội XX khét tiếng của Đảng cộng sản Liên Xô.


   Không, chủ nghĩa xã hội không sụp đổ, cái sụp đổ là chủ nghĩa xã hội thị trường.



Nguồn: https://www.revolutionarydemocracy.org/archive/guha.htm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin

Sự thật về kinh tế tập thể và khoán sản phẩm ở Trung Quốc

Lenin: Phương pháp Tay-lo là phương pháp dùng máy móc nô dịch con người