Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin



Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin


(Phan Khôi dịch theo bản dịch bằng chữ Trung Hoa)


   Có một số đồng chí trẻ yêu cầu tôi phát biểu ý kiến trên báo về vấn đề ngôn ngữ học, nhất là ý kiến về vấn đề chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học, cố nhiên tôi không thể làm thỏa mãn hoàn toàn sự yêu cầu của các đồng chí ấy; song cái vấn đề chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học cũng như về các khoa học xã hội khác, nó đối với tôi có quan hệ trực tiếp, cho nên tôi vui lòng trả lời mấy câu hỏi các đồng chí ấy đã đề ra.


HỎI: Có người nói, ngôn ngữ là thượng tằng kiến trúc của cơ sở kinh tế, nói thế có đúng không?


ĐÁP: Không phải thế, không đúng.


   Cơ sở là chế độ kinh tế của xã hội khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nào đó. Thượng tằng kiến trúc là những quan điểm xã hội đối với chính trị, pháp luật, tôn giáo, mỹ thuật, triết học cho đến những chế độ về chính trị, pháp luật v.v… thích hợp với quan điểm ấy.


   Mỗi một cơ sở kinh tế đều có thượng tằng kiến trúc riêng thích hợp với nó. Cơ sở của chế độ phong kiến có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó, có những quan điểm về pháp luật, chính trị v.v… của chính mình nó cho đến những chế độ thích hợp với quan điểm ấy; cơ sở của chủ nghĩa tư bản có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó; cơ sở của chủ nghĩa xã hội cũng có cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó. Khi một cơ sở biến hóa và bị tiêu diệt thì thượng tằng kiến trúc cũng biến hóa và bị tiêu diệt theo; khi sản sinh một cơ sở mới thì cũng theo đó mà sản sinh một thượng tằng kiến trúc mới thích hợp với cơ sở mới.


   Về phương diện này, ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau tận gốc. Hãy xem xã hội nước Nga và ngôn ngữ nước Nga thì biết. Ba mươi năm gần nay, ở Nga, đã tiêu diệt cái cơ sở cũ của chủ nghĩa tư bản, kiến thiết cái cơ sở mới của chủ nghĩa xã hội. Cùng một lúc ấy cũng tiêu diệt cái thượng tằng kiến trúc của chủ nghĩa tư bản, và kiến thiết cái thượng tằng kiến trúc mới thích hợp với chủ nghĩa xã hội. Thế nghĩa là, những chế độ chính trị, pháp luật cũ đã bị những chế độ mới của chủ nghĩa xã hội thay thế cho. Nhưng dù thế nào mặc, ngôn ngữ nước Nga, về cơ bản, vẫn y nguyên như hồi Cách mạng tháng Mười về trước.


   Ở trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga có sinh ra sự biến hóa nào chăng? Có, từ vị của ngôn ngữ Nga đã có sự biến hóa đến một chừng mực nào, nghĩa là, bởi đã nẩy ra cách sinh sản [b] mới của chủ nghĩa xã hội, xuất hiện ra quốc gia mới, văn hóa mới của chủ nghĩa xã hội, tinh thần xã hội mới, đạo đức mới, và bởi sự phát triển về kỹ thuật và khoa học, làm cho tăng gia một mớ từ và ngữ mới; lại có bao nhiêu từ và ngữ đổi ý nghĩa đi, hiểu bằng một ý nghĩa mới; lại có bao nhiêu từ cũ không còn có trong từ vị nữa, đến như từ vị cơ bản và cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ Nga là cái gây nền móng của ngôn ngữ thì, sau khi tiêu diệt cái cơ sở của chủ nghĩa tư bản rồi, chẳng những nó không bị tiêu diệt và bị từ vị cơ bản mới, cách cấu tạo ngữ pháp mới thay thế, mà trái lại, chúng nó đều được bảo tồn nguyên vẹn, chưa hề có sự biến hóa nghiêm trọng nào, nghĩa là còn giữ lại làm thành cái nền móng của ngôn ngữ Nga hiện đại.


   Lại còn, thượng tằng kiến trúc bởi hạ tằng cơ sở mà sản sinh ra, nói thế không phải là nói thượng tằng kiến trúc chỉ là phản ảnh cơ sở, chỉ là tiêu cực bất can, nguội lạnh đối với vận mạng của cơ sở, đối với vận mạng của giai cấp, đối với tính chất chế độ của chính mình nó. Trái lại, sau khi thượng tằng kiến trúc xuất hiện rồi, nó bèn thành ra một lực lượng tích cực rất lớn, giúp một cách tích cực cho cơ sở thành hình và kiên cố, dùng mọi cách giúp cho chế độ mới để trừ tận gốc và tiêu diệt cơ sở cũ và giai cấp cũ.


   Chẳng như thế thì cũng chẳng có thể được. Cái cơ sở sở dĩ gây dựng nên cái thượng tằng kiến trúc của chính mình nó là vì để cái thượng tằng kiến trúc phục vụ cho nó, để cái thượng tằng kiến trúc tích cực giúp nó thành hình và kiên cố hơn lên, để cái thượng tằng kiến trúc đấu tranh cách tích cực làm cho tiêu diệt hẳn cái cơ sở cũ cùng với thượng tằng kiến trúc của nó là cái đã quá thời rồi. Chỉ khi nào thượng tằng kiến trúc không chịu đóng vai tuồng phục vụ cho cơ sở, chỉ khi nào thượng tằng kiến trúc từ cái lập trường tích cực bảo vệ cho cơ sở mình chạy sang cái lập trường nguội lạnh đối với cơ sở mình, chạy sang cái lập trường coi các giai cấp như nhau, thì khi đó nó sẽ mất cái bản chất của nó đi, và không còn là thượng tằng kiến trúc nữa.


   Về phương diện này, là chỗ ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc không giống nhau tận gốc. Ngôn ngữ không sản sinh bởi một cơ sở nào, này hoặc kia, cũ hoặc mới từ nội bộ của một xã hội, mà sản sinh bởi trên con đường tiến triển của toàn bộ lịch sử xã hội và toàn bộ lịch sử cơ sở hàng ngàn hàng trăm năm nay. Ngôn ngữ không phải bởi một giai cấp nào sáng tạo ra, mà là cả xã hội, mà là cả các giai cấp trong xã hội, dồn hàng trăm thế hệ đã nỗ lực ra mà sáng tạo. Ngôn ngữ được sáng tạo ra không phải để thỏa mãn sự cần dùng cho một giai cấp nào, mà để thỏa mãn sự cân dùng cho cả xã hội, cho hết thảy các giai cấp trong xã hội. Chính vì thế mà ngôn ngữ đã được sáng tạo ra là ngôn ngữ của toàn dân, nó đối với xã hội là thống nhất, đối với tổ thành viên của toàn thể xã hội là cộng đồng. Vì thế, ngôn ngữ là một thứ công cụ dùng để phục vụ cho sự giao tế giữa mọi người, không để phục vụ cho một giai cấp này làm tổn hại một giai cấp khác mà là phục vụ cho cả xã hội, phục vụ cho hết thảy các giai cấp trong xã hội bằng cách coi ai như nấy. Đó cũng là cái lẽ tại sao mà ngôn ngữ có thể phục vụ bằng cách coi ai như nấy, đã phục vụ cho cái chế độ cũ hầu hết lại phục vụ cho cái chế độ mới đương lên; có thể đã phục vụ cho cơ sở cũ, lại phục vụ cho cơ sở mới; có thể đã phục vụ cho kẻ bóc lột, lại phục vụ cho kẻ bị bóc lột.


   Ai cũng biết rằng ngôn ngữ nước Nga từ cách mạng tháng Mười về trước đã phục vụ cho chủ nghĩa tư bản của xã hội Nga và cho văn hóa của giai cấp tư sản Nga, với bây giờ, nó đương phục vụ cho chế độ chủ nghĩa xã hội và văn hóa chủ nghĩa xã hội đều được việc như nhau cả.


   Các thứ ngôn ngữ U-cơ-ren, Bạch Nga, U-béc, Ka-dắc, Giê-óc-gi, Ác-mê-ni, Ét-tô-ni, Lát-vi, Li-tu-a-ni, Môn-đa-vi, Tác-ta, A-déc-bai-gian, Bát-kia, Tuya-men, cho đến các thứ ngôn ngữ khác trong các dân tộc Liên Xô đều có thể nói chung rằng nó đã phục vụ rất được việc cho cái chế độ giai cấp tư sản cũ của các dân tộc ấy, nó cũng lại đang phục vụ rất được việc cho cái chế độ chủ nghĩa xã hội mới của các dân tộc ấy nữa.


   Chẳng như thế thì cũng chẳng có thể được. Sự tồn tại của ngôn ngữ và sự sáng tạo ngôn ngữ chính để dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người và phục vụ cho cả xã hội, chính để làm thành một vật cộng đồng đối với tất cả tổ-thành-viên xã hội, làm thành một vật thống nhất đối với xã hội. Nó phải phục vụ cho tổ-thành-viên xã hội ai cũng như nấy mà không phân biệt địa vị giai cấp của những tổ-thành-viên ấy ra sao. Chỉ khi nào ngôn ngữ lìa bỏ cái lập trường toàn dân ấy, chỉ khi nào ngôn ngữ đứng lệch trên một lập trường, thiên vị và phù trì một tập đoàn xã hội nọ mà làm tổn hại những tập đoàn xã hội khác thì nó sẽ mất cái bản chất của chính mình, nó sẽ không còn làm công cụ giao tế giữa mọi người trong xã hội nữa, nó sẽ biến làm thứ tiếng lóng của một tập đoàn xã hội nọ mà thoái hóa hẳn đi, cuối cùng đến tiêu diệt đi.


   Về phương diện này, ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc có sự khác nhau về nguyên tắc, song với công cụ sinh sản lại thường khác nhau. Ví như các đồ máy móc, đã phục vụ cho chế độ chủ nghĩa tư bản, cũng phục vụ cho chế độ chủ nghĩa xã hội.


   Lại nữa, thượng tằng kiến trúc là sản vật của một thời đại mà trong đó cái cơ sở kinh tế của nó đương tồn tại và đương hoạt động. Vì đó, cái sinh mệnh của thượng tằng kiến trúc không lâu dài được, nó phải bị phá hủy và tiêu diệt cùng với sự phá hủy và tiêu diệt của cái cơ sở ấy.


   Đến như ngôn ngữ, trái lại, nó là sản vật của bao nhiêu thời đại, trong bao nhiêu thời đại ấy, nó thành hình hơn lên, phong phú hơn lên, phát triển hơn lên, tinh luyện hơn lên. Cho nên sinh mệnh của ngôn ngữ phải tuyệt đối lâu dài hơn sinh mệnh của bất cứ một cơ sở nào, một thượng tằng kiến trúc nào. Ấy là cái lẽ vì sao mà, chẳng những trải qua sự sản sinh và tiêu diệt của một cái cơ sở cùng với thượng tằng kiến trúc của nó cũng không thể làm cho trên lịch sử tiêu diệt mất một thứ ngôn ngữ, tiêu diệt mất cách kết cấu ngôn ngữ, và sản sinh ra thứ ngôn ngữ mới có đủ từ vị mới và cách cấu tạo ngữ pháp mới.


   Từ Pút-kin qua đời đến nay có hơn một trăm năm rồi. Trong thời kỳ ấy, ở nước Nga đã từng tiêu diệt chế độ phong kiến, chế độ tư bản, và sản sinh ra chế độ thứ ba, chế độ chủ nghĩa xã hội, nghĩa là đã từng tiêu diệt hai cái cơ sở cùng với thượng tằng kiến trúc mới của nó, nhưng mà trong thời kỳ dài ấy, ngôn ngữ Nga tịnh không hề phát sinh ra sự phá hoại nào, vả lại ngôn ngữ Nga ngày nay, nói về cách kết cấu của nó, có khác rất ít với ngôn ngữ của Pút-kin.


   Trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga đã phát sinh ra sự biến hóa gì? Trong thời kỳ ấy, ngôn ngữ Nga đã thêm rất nhiều từ vị, có một số lớn những từ cũ bị loại ra khỏi từ vị, có một số lớn những từ mà ý nghĩa nó thay đổi đi, và cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ được cải tiến. Đến như cách kết cấu ngôn ngữ, cách cấu tạo ngữ pháp của ngôn ngữ và từ vị cơ bản của Pút-kin thì hầu như bảo tồn nguyên vẹn, làm nền móng của ngôn ngữ Nga hiện đại.


   Đó là điều tất nhiên phải thế. Giá như sau mỗi một lần cách mạng, đều đem những cách kết cấu ngôn ngữ, cách cấu tạo ngữ pháp của nó cùng từ vị cơ bản mà tiêu diệt đi như là tiêu diệt thượng tằng kiến trúc và gây ra những cái mới để thay vào, thì có là cần thiết gì đâu? Ví dụ: những tiếng như “nước”, “đất”, “núi”, “rừng”, “cá”, “người”, “đi đường”, “làm việc”, “sinh sản”, “buôn bán”, v.v..., không gọi bằng “nước”, “đất”, “núi”, v.v. mà gọi bằng những tên khác, thì có là cần thiết gì đâu? Về sự biến hóa của từ trong ngôn ngữ, về sự tổ hợp của từ trong câu nói, không chiểu theo ngữ pháp hiện hữu mà lại chiểu theo một thứ ngữ pháp khác, thì có là cần thiết gì đâu? Sự cải cách ngôn ngữ dường ấy đối với cuộc cách mạng có ích gì? Theo lịch sử, khi không có một sự tất yếu đặc biệt nào, quyết nhiên không thể làm một việc cải cách quan trọng nào cả. Xin hỏi, nếu đã chứng tỏ rằng thứ ngôn ngữ hiện hữu cùng cách kết cấu nó, về cơ bản, có thể thích dụng hoàn toàn để thỏa mãn sự nhu cầu của chế độ mới, thì sự cải cách ngôn ngữ dường ấy có là cần thiết gì đâu? Sự tiêu diệt thượng tằng kiến trúc cũ và thay bằng thượng tằng kiến trúc mới, có thể vả lại cần phải hoàn thành trong một vài năm, hầu làm cho sức sinh sản của xã hội được tự do phát triển; nhưng mà trong một vài năm muốn tiêu diệt thứ ngôn ngữ hiện hữu, gây dựng một thứ ngôn ngữ mới thay vào, thì chẳng là có thể gây ra cái trạng thái vô chính phủ trong cuộc sinh hoạt xã hội và làm cho xã hội có cái nguy cơ tan rã sao? Nếu không phải Đông-Ki-sốt thì có ai lại chịu chác lấy cho mình cái nhiệm vụ ấy?


   Sau hết, thượng tằng kiến trúc và ngôn ngữ còn có một sự khác nhau tận gốc nữa: Thượng tằng kiến trúc và sinh sản và hành vi sinh sản không có liên hệ trực tiếp với nhau. Thượng tằng kiến trúc chỉ là trải qua trung gian của kinh tế, trung gian của cơ sở mà liên hệ với sinh sản cách gián tiếp; bởi đó thượng tằng kiến trúc không phản ánh trực tiếp, không phản ánh tức khắc những sự thay đổi của sức sinh sản phát triển theo mực thủy bình, mà là sau khi cơ sở thay đổi rồi, nó mới lồng qua ánh sáng gẫy của mọi sự thay đổi trong sinh sản, lồng qua mới sự thay đổi trong cơ sở mà phản ánh. Thế nghĩa là, cái phạm vi hoạt động của thượng tằng kiến trúc là chật hẹp và có chừng mực.


   Đến như ngôn ngữ, trái lại, là liên hệ trực tiếp với hành vi sinh sản của người ta, vả lại chẳng những với hành vi sinh sản, mà còn liên hệ trực tiếp với hết thảy những hành vi khác ở mọi phương diện công tác (từ sinh sản đến cơ sở, từ cơ sở đến thượng tằng kiến trúc) của người ta nữa; bởi đó ngôn ngữ phản ánh trực tiếp phản ánh tức khắc những sự thay đổi trong sinh sản, mà không đợi cơ sở thay đổi; cho nên cái phạm vi hoạt động của ngôn ngữ là bao quát tất cả mọi phương diện hành vi của người ta, đối với phạm vi hoạt động của thượng tằng kiến trúc nó rộng hơn nhiều lắm, phức tạp hơn nhiều lắm, vả lại cái phạm vi hoạt động của nó còn là không có chừng mực nữa kia.


   Điều đó trước tiên cắt nghĩa tại sao ngôn ngữ, chủ yếu là phần từ vị của nó, cứ ở trong cái trạng thái hầu như liên miên thay đổi. Công nghệ và nông nghiệp cứ phát triển mãi, nghề buôn bán và nghề vận tải cứ phát triển mãi, kỹ thuật và khoa học cứ phát triển mãi, chúng nó đòi hỏi ngôn ngữ phải đem những từ mới, những ngữ mới cần dùng trong công tác làm đầy đủ từ vị của chúng nó; và ngôn ngữ cũng phản ánh những cần dùng ấy cách trực tiếp bèn đem những từ mới làm đầy đủ từ vị của chính mình và cải tiến cách cấu tạo ngữ pháp của chính mình.


   Nói tóm lại:


a) Người mác-xít không thể nhận cho ngôn ngữ là một thượng tằng kiến trúc ở trên cơ sở;

b) Lẫn ngôn ngữ với thượng tằng kiến trúc làm một, ấy là phạm một sai lầm lớn.


HỎI: Có người nói, ngôn ngữ từ xưa cho đến nay cũng vẫn là có tính giai cấp; hễ đã là thứ ngôn ngữ cộng đồng thống nhất của xã hội thì không phải là ngôn ngữ phi giai cấp, ngôn ngữ của toàn dân, nói thế có đúng không?


ĐÁP: Không phải thế, không đúng.


   Một điều rất dễ hiểu là, ở trong một xã hội không có giai cấp thì dứt khoát không có thứ ngôn ngữ goi là có tính giai cấp. Xã hội cộng sản thị tộc nguyên thủy không hề có giai cấp, vì đó quyết không thể có thứ ngôn ngữ giai cấp lúc ấy, ngôn ngữ đối với mỗi một tập đoàn của hết thảy mọi người là cộng đồng, là thống nhất. Có người phản đối, nói rằng không cứ một tập đoàn nhân loại, kể cả tập đoàn cộng sản nguyên thủy nữa, hết thảy đều có giai cấp, lời nói ấy không kể được là phản đối, mà chỉ là chơi chữ, không đáng bẻ bác.


   Nói về sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ, từ ngôn ngữ thị tộc đến ngôn ngữ bộ lạc, từ ngôn ngữ bộ lạc đến ngôn ngữ bộ tộc, từ ngôn ngữ bộ tộc đến ngôn ngữ dân tộc, trong cả các giai đoạn ấy, ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người trong xã hội, đối với cả xã hội là thống nhất, là cộng đồng và phục vụ cho mọi tổ-thành-viên xã hội ai cũng như nấy, mà không phân biệt địa vị xã hội của họ là thế nào.


   Ở đây không phải tôi nói về thời đại nô lệ và các đế quốc của thời đại trung thế kỷ, như các đế quốc được dựng lên bởi Sy-tuýt, A-léc-xan Đại đế, Xê-da, Sác-lơ Đại đế, các đế quốc ấy chưa hề có cơ sở kinh tế của chính mình mà là những liên hiệp quân sự hành chính tạm thời, không vững chãi. Những đế quốc ấy chẳng những chưa từng có mà lại cũng không thể có thứ ngôn ngữ thống nhất của cả cái đế quốc, thứ ngôn ngữ mà hết thảy mọi tổ-thành-viên đế quốc đều hiểu được. Những đế quốc ấy là một tập-hiệp-thể gồm những bộ lạc và bộ tộc, mỗi một có cách sinh hoạt riêng, mỗi một có ngôn ngữ riêng. Vì đó, không phải tôi nói về những đế quốc ấy hay những đế quốc giống như thế, mà tôi nói về những bộ lạc và bộ tộc là tổ-thành-viên của những đế quốc ấy, những bộ lạc và bộ tộc này đều có cơ sở kinh tế của chính mình, đều có ngôn ngữ đã thành hình lâu rồi của chính mình. Lịch sử bảo cho chúng ta biết rằng ngôn ngữ của những bộ lạc và bộ tộc ấy chẳng phải có tính giai cấp mà có tính toàn dân, đối với mỗi bộ tộc mỗi bộ lạc là ngôn ngữ cộng đồng, ai ai cũng hiểu.


   Cố nhiên, ngoài ngôn ngữ ra, còn có phương ngôn thổ ngữ, nhưng thứ ngôn ngữ thống nhất và cộng đồng đối với bộ lạc và bộ tộc thì chiếm lấy cái địa vị thống trị và làm cho những phương ngôn thổ ngữ ấy phục tùng nó.


   Về sau, chủ nghĩa tư bản ra đời, tiêu diệt cuộc cát cứ của phong kiến, tổ chức nên thị trường dân tộc, rồi thì bộ tộc biến làm dân tộc và ngôn ngữ của bộ tộc biến làm ngôn ngữ của dân tộc. Lịch sử bảo cho ta biết rằng ngôn ngữ của dân tộc không phải có tính giai cấp, mà có tính toàn dân, là thứ ngôn ngữ đối với tổ-thành-viên dân tộc là cộng đồng đối với cả dân tộc là thống nhất.


   Như trên đã nói, ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế giữa xã hội cho mọi người thì nó phục vụ cho hết thảy mọi giai cấp của xã hội cũng thế. Về phương diện này, ngôn ngữ tỏ ra rằng nó đối với các giai cấp trong xã hội vẫn coi ai như nấy, nhưng giữa mọi người, từng tập đoàn xã hội riêng rẽ, từng giai cấp riêng rẽ, lại không nguội lạnh đối với ngôn ngữ đâu. Họ hết sức muốn lợi dụng ngôn ngữ phục vụ cho lợi ích chính mình, họ đem những từ vị đặc biệt, thuật ngữ đặc biệt, thành ngữ đặc biệt của chính mình họ mà thêm càn vào trong ngôn ngữ. Về phương diện này, những từng lớp trên của giai cấp hữu sản là kẻ lìa bỏ nhân dân, thù ghét nhân dân như bọn quý tộc, bọn ở từng lớp trên của giai cấp tư sản, biểu hiện ra càng lợi hại lắm. Họ “sáng tạo” những tiếng quen dùng, tiếng lóng, tiếng lịch sự của giai cấp họ, trong ít nhiều thứ trứ thuật họ thường nhận lầm những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy làm ngôn ngữ, như nói “ngôn ngữ quý tộc”, “ngôn ngữ giai cấp tư sản” – mà đối lập với nó là “ngôn ngữ giai cấp tư sản” hay là “ngôn ngữ nông dân”. Rất đáng lấy làm lạ là có ít nhiều đồng chí lại lấy đó làm căn cứ mà kết luận rằng không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ dân tộc, sự thực chỉ có ngôn ngữ giai cấp thôi.


   Tôi tưởng kết luận như thế là hết sức sai lầm. Có thể nhận cho những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy làm ngôn ngữ không? Rất không có thể được. Một là vì những tiếng quen dùng, những tiếng lóng ấy tự nó không có cách cấu tạo ngữ pháp và từ vị cơ bản mà phải mượn của ngôn ngữ dân tộc; hai là vì những tiếng quen dùng và tiếng lóng ấy chỉ thông dụng trong một phạm vi chật hẹp giữa bọn ở từng lớp trên của một giai cấp nào đó, hoàn toàn không dùng làm công cụ giao tế giữa mọi người trong cả xã hội được. Ở trong những tiếng quen dùng và tiếng lóng ấy có những gì? Chỉ có một số từ đặc biệt có thú vị riêng cho bọn ở từng lớp trên của giai cấp quý tộc hoặc tư sản, một số thành ngữ và từ cú có vẻ nhã nhặn kiểu cách đặc biệt và tránh những thành ngữ và từ cú “quê kệch” trong ngôn ngữ dân tộc; nhưng hầu hết những từ và cách cấu tạo ngữ pháp đều mượn ở trong ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ của toàn dân, và ngoài ra còn có ít nhiều tiếng ngoại quốc xen vào. Cho nên, những tiếng địa phương, tiếng quen dùng, tiếng lóng chỉ là nhánh nhóc của ngôn ngữ dân tộc, chung cho toàn dân, không thành ra ngôn ngữ độc lập được vả lại nhất định không thể nào phát triển được. Nếu cho rằng tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng có thể phát triển thành ra ngôn ngữ dân tộc và thay thế cho ngôn ngữ dân tộc, ấy là bít con đường tương lai của lịch sử và rời bỏ lập trường của chủ nghĩa Mác.


   Có người dẫn lời của Mác trong bài “Saint Max” nói rằng bọn hữu sản có “ngôn ngữ của chính mình họ”, thứ ngôn ngữ ấy “là sản vật của giai cấp hữu sản”, thứ ngôn ngữ ấy chứa đầy đầu óc tham tiền và tinh thần con buôn. Có một số đồng chí toan lợi dụng sự dẫn chứng ấy để chứng tỏ rằng hình như Mác đã chủ trương ngôn ngữ có tính giai cấp, hình như Mác đã phủ nhận sự tồn tại của ngôn ngữ dân tộc thống nhất. Nếu như những đồng chí ấy biết lập luận một cách khách quan thì họ phải dẫn chứng một câu khác của Mác cùng trong bài ấy, khi Mác nói về bước đường thành hình của ngôn ngữ dân tộc thống nhất có nói rằng: “Những tiếng địa phương, tiếng quen dùng tập trung lại làm thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất là do sự tập trung của kinh tế và chính trị quyết định”.


   Thế đủ biết Mác thừa nhận rằng phải có ngôn ngữ dân tộc thống nhất làm hình thức tối cao, nó bắt những tiếng địa phương, tiếng quen dùng là hình thức thấp kém phục tùng chính mình nó.


   Vậy thì, cái câu Mác nói rằng “ngôn ngữ của bọn hữu sản là sản vật của giai cấp tư sản” có nghĩa gì? Có phải nhận cho rằng thứ ngôn ngữ ấy cũng giống như ngôn ngữ dân tộc có cách kết cấu đặc biệt của chính mình nó chăng? Mác có thể hiểu vấn đề như vậy không? Thật là không thể. Mác chỉ muốn nói rằng bọn hữu sản đem những tiếng quen dùng kiểu con buôn của chính mình vào làm dơ bẩn ngôn ngữ dân tộc thống nhất, nghĩa là bọn hữu sản chỉ có những tiếng lóng kiểu con buôn của họ.


   Thế đủ thấy rằng những đồng chí đó đã hiểu cong quẹo lập trường của Mác, mà sở dĩ họ có sự hiểu cong quẹo ấy là tại họ không lấy thái độ người mác-xít để dẫn chứng Mác mà lại lấy thái độ con mọt sách chỉ trông mặt chữ không cần hiểu đến nơi để dẫn chứng Mác.


   Lại có người dẫn chứng lời Ăng-ghen nói trong sách “Tình hình giai cấp công nhân nước Anh” rằng: “Giai cấp công nhân nước Anh dần dần biến thành một thứ người khác hẳn với giai cấp tư sản nước Anh, không giống giai cấp tư sản, công nhân họ nói một thứ tiếng riêng, có một thứ tư tưởng, quan niệm, phong tục và nguyên tắc đạo đức riêng, có một thứ tông giáo và chính trị riêng”.


   Có một số đồng chí căn cứ lời nói ấy, rồi kết luận rằng Ăng-ghen phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc, nghĩa là Ăng-ghen cũng chủ trương ngôn ngữ “có tính giai cấp”. Thực ra thì ở chỗ đó Ăng-ghen không nói về ngôn ngữ mà nói về tiếng địa phương và tiếng quen dùng, cố nhiên ông hiểu rằng tiếng địa phương và tiếng quen dùng là nhánh nhóc của ngôn ngữ dân tộc, không có thể nào thay thế cho ngôn ngữ dân tộc được. Nhưng mà những đồng chí ấy không chịu hiểu ngôn ngữ với tiếng địa phương và tiếng quen dùng có khác nhau như thế nào.


   Rõ ràng là sự dẫn dụng một đoạn văn đó không được xác đáng, bởi vì ở đó Ăng-ghen không nói về “ngôn ngữ có tính giai cấp” mà cốt nói những tư tưởng, quan niệm, phong tục, nguyên tắc đạo đức, tông giáo và chính trị của giai cấp. Những tư tưởng, quan niệm, phong tục, nguyên tắc đạo đức, tông giáo và chính trị của bọn hữu sản và của bọn vô sản là đối lập nhau cách tuyệt đối, điều đó rất đúng. Nhưng cái đó với ngôn ngữ dân tộc hay “tính giai cấp” của ngôn ngữ có quan hệ gì đâu? Có thể nào vin lấy sự tồn tại của giai cấp đối lập trong xã hội làm luận chứng để binh vực cho ngôn ngữ là có “tính giai cấp”? hay phản đối sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc thống nhất? Chủ nghĩa Mác nói rằng cái tính cộng đồng của ngôn ngữ là một tiêu chí rất trọng yếu của dân tộc, đồng thời nó vẫn biết rằng trong nội bộ dân tộc có mâu thuẫn giai cấp, các đồng chí đó có thừa nhận cái lý thuyết này của chủ nghĩa Mác chăng?


   Có người còn dẫn chứng lời của La-phác, nói rằng La-phác ở trong tập sách nhỏ “Ngôn ngữ và cách mạng” đã thừa nhận ngôn ngữ “có tính giai cấp”, hình như cũng phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc toàn dân. Điều đó không đúng. La-phác quả có nói về “ngôn ngữ quý tộc” và “tiếng lóng của các tầng lớp xã hội, nhưng các đồng chí đó quên rằng không phải La-phác thảo luận về vấn đề ngôn ngữ và tiếng lóng khác nhau, có khi ông gọi tiếng quen dùng là “tiếng bịa đặt” có khi gọi là “tiếng lóng”. Ở trong tập sách nhỏ ấy ông nói hẳn rằng: “Thứ tiếng bịa đặt mà bọn quý tộc ưa dùng là lấy ở trong ngôn ngữ toàn dân ra, ngôn ngữ toàn dân là tiếng mà từ người hữu sản đến người thủ công, từ người thành thị đến người nhà quê đều dùng để nói”.


   Thế đủ thấy rằng La-phác vẫn thừa nhận sự tồn tại và cần thiết của ngôn ngữ toàn dân, ông thừa hiểu rằng “ngôn ngữ quý tộc” và những tiếng quen dùng, tiếng lóng đều phụ thuộc và phục tùng ngôn ngữ toàn dân vậy.


   Thế đủ thấy rằng sự dẫn chứng lời nói của La-phác là không đạt được mục đích gì cả.


   Có người nói, có một thời kỳ trong mấy trăm năm, vua chúa phong kiến nước Anh nói “tiếng nước Pháp” mà trong lúc ấy người dân nước Anh lại cứ nói tiếng nước Anh, cái sự thực ấy hình như có thể làm luận chứng để binh vực cho ngôn ngữ “có tính giai cấp” và để phản đối sự cần thiết của ngôn ngữ toàn dân. Nhưng đó không phải một luận chứng mà chỉ là một truyện nói đùa. Một là, người nói tiếng Pháp lúc ấy không phải hết thảy vua chúa trong kiến mà là một số ít ở tầng lớp trên giữa bọn vua chúa phong kiến nói trong cung quốc vương và trong phủ quý tộc; hai là, không phải bọn họ nói một thứ ngôn ngữ “giai cấp” nào mà chỉ nói tiếng nước Pháp phổ thông của toàn dân; ba là, ai nấy đều biết rằng cái thói ưa nói tiếng Pháp đó về sau hoàn toàn mất đi mà nhường chỗ cho tiếng nói của toàn dân nước Anh. Có phải các đồng chí ấy nhận cho rằng trong thời kỳ mấy trăm năm đó khi vua chúa phong kiến nước Anh nói chuyện với nhân dân nước Anh phải dùng thông ngôn chăng? Có phải nhận cho rằng bọn họ hoàn toàn không nói tiếng Anh và lúc bấy giờ tiếng Anh hoàn toàn không tồn tại nữa, lúc bấy giờ tiếng Pháp ở nước Anh chẳng những là thứ tiếng lịch sự thông hành giữa một số ít tầng lớp trên của quý tộc nước Anh mà còn là thứ tiếng được xem trọng chăng? Làm sao lại có thể căn cứ ở cái luận chứng như câu chuyện đùa ấy để mà phủ nhận sự tồn tại và cần thiết của ngôn ngữ toàn dân được.


   Có một lúc bọn quý tộc nước Nga cũng có thói ưa nói tiếng Pháp trong cung đình và khách thính. Họ tự cho rằng khi nói tiếng Nga mà biết chen tiếng Pháp vào, và dùng giọng tiếng Pháp để nói tiếng Nga là điều đắc ý, như thế có phải là hồi đó ở nước Nga không có ngôn ngữ toàn dân chăng? Có phải là hồi đó ngôn ngữ toàn dân chỉ là hư tưởng mà ngôn ngữ “giai cấp” mới là thực sự chăng?


   Ở chỗ đó các đồng chí phạm rất ít là hai cái sai lầm.


   Cái sai lầm thứ nhất là lẫn ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc làm một. Họ nhận cho rằng thượng tằng kiến trúc đã là có tính giai cấp thì ngôn ngữ cũng phải là “giai cấp” mà không là toàn dân. Nhưng mà trên kia tôi đã nói ngôn ngữ và thượng tằng kiến trúc hai cái khái niệm ấy không giống nhau, người Mác-xít không được phép nhận lẫn làm một.


   Cái sai lầm thứ hai là các đồng chí ấy coi sự đối lập giữa lợi ích giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, có sự đấu tranh giai cấp khốc liệt giữa hai đằng là xã hội đã hoàn toàn chia xé và giữa hai cái giai cấp đối địch đã cắt đứt mọi sự liên hệ với nhau. Họ nhận cho rằng xã hội đã chia xé rồi, thì không còn có xã hội thống nhất nữa, có chăng chỉ là giai cấp, vậy thì không cần có thứ ngôn ngữ thống nhất đối với cả xã hội, không cần có ngôn ngữ dân tộc nữa. Xã hội đã hoàn toàn chia xé rồi, và không còn có ngôn ngữ toàn dân nữa, vậy thì còn sót lại cái gì. Còn sót lại chỉ là giai cấp và ngôn ngữ của giai cấp, tự nhiên mỗi ngôn ngữ “giai cấp” đều có ngữ pháp của “giai cấp” chính mình: Ngữ pháp của giai cấp vô sản và ngữ pháp của giai cấp tư sản. Thực ra thì cái thứ ngữ pháp ấy chẳng hề tồn tại trong thế giới này, nhưng điều đó cũng không làm cho các đồng chí ấy lấy làm khó nghĩ, họ cứ tin rằng thứ ngữ pháp ấy rồi sẽ xuất hiện.


   Đã có lần, nước ta từng có “nhà Mác-xít” nói quyết rằng sau cách mạng tháng Mười, những đường sắt ở nước ta còn giữ lại là của giai cấp tư sản, người Mác-xít mà lợi dụng thứ đường sắt ấy là bẽ mặt lắm, cần phải giỡ bỏ đi, kiến trúc đường sắt mới của “giai cấp vô sản”. Bởi đó những “nhà Mác-xít” ấy đã được tặng cho cái huy hiệu là “người ở lỗ”.


   Cái quan điểm hủ lậu và vô chính phủ chủ nghĩa đối với xã hội, giai cấp và ngôn ngữ như thế, rõ ràng là không giống nhau một chút nào với chủ nghĩa Mác cả, thế mà cái thứ quan điểm ấy thật nó vẫn còn cứ tồn tại trong đầu óc của một số đồng chí hiểu biết sai lầm.


   Cho rằng trong xã hội có đấu tranh giai cấp gắt gao thì hình như là cái xã hội ấy đã chia xé ra thành hai giai cấp mà giữa hai đằng không có mảy may sự liên hệ lẫn nhau về kinh tế, rõ thật là không đúng. Trái lại, nếu chủ nghĩa tư bản còn sống một ngày thì giữa bọn hữu sản và bọn vô sản vẫn còn có muôn ngàn mối liên hệ lẫn nhau về kinh tế. Họ là hai bộ phận của xã hội theo chủ nghĩa tư bản. Bọn hữu sản, nếu ở dưới sức chi phối của mình mà không có công nhân để thuê mướn thì không thể sinh hoạt và phát tài nổi; bọn vô sản, nếu không bán sức lao động của mình cho nhà tư bản thì cũng không sống được nữa. Cắt đứt mọi mối liên hệ kinh tế giữa hai đằng ấy là đình chỉ tất cả mọi sự sinh sản, mà đình chỉ tất cả mọi sự sinh sản thì có thể làm cho xã hội diệt vong, chính mình giai cấp diệt vong. Lẽ cố nhiên là không có một giai cấp nào muốn cho chính mình diệt vong cả. Vì thế đấu tranh giai cấp mặc dầu nhọn bén đến đâu cũng không làm cho xã hội tan rã được. Chỉ có không hiểu một tí nào cả về lý luận chủ nghĩa Mác, chỉ có không biết mảy may nào về bản tính của ngôn ngữ thì mới làm cho các đồng chí ấy của chúng ta nói ra những câu bâng quơ như là xã hội chia xé, ngôn ngữ “giai cấp”, ngữ pháp “giai cấp” mà thôi.


   Lại nữa, họ còn dẫn chứng lời của Lê-nin, nói Lê-nin nhận cho rằng ở dưới chủ nghĩa tư bản có hai thứ văn hóa, văn hóa của giai cấp tư sản và văn hóa của giai cấp vô sản; nói khẩu hiệu dân tộc văn hóa ở dưới chủ nghĩa tư bản tức là khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa. Hết thảy cái đó đều đúng. Lê-nin nói hoàn toàn đúng. Song le cái đó với ngôn ngữ “có tính giai cấp” có quan hệ gì đâu? Các đồng chí ấy dẫn chứng Lê-nin hai câu nói về văn hóa đó rõ ràng có ý kiến bạn đọc tin rằng ở trong xã hội đã tồn tại hai thứ văn hóa, văn hóa của giai cấp tư sản và văn hóa của giai cấp vô sản, vậy thì cũng phải có hai thứ ngôn ngữ, bởi vì ngôn ngữ với văn hóa liên hệ nhau, và từ đó lấy được cái kết luận rằng Lê-nin đã phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc thống nhất, từ đó thấy được Lê-nin cũng chủ trương ngôn ngữ “có tính giai cấp”. Chỗ sai lầm của các đồng chí ấy ở đây là bởi họ đã đánh lộn sòng ngôn ngữ với văn hóa làm một. Thực ra thì văn hóa và ngôn ngữ là hai vật không giống nhau. Văn hóa có thể của giai cấp tư sản và của chủ nghĩa xã hội. Còn ngôn ngữ là công cụ giao tế, vĩnh viễn có tính toàn dân, nó có thể phục vụ cho văn hóa của chủ nghĩa xã hội. Tức như ngôn ngữ Nga, ngôn ngữ Uy-cờ-ren, ngôn ngữ U-béc hiện giờ phục vụ cho văn hóa chủ nghĩa xã hội của các dân tộc ấy rất được việc, cũng như trước cách mạng tháng Mười nó đã phục vụ cho văn hóa giai cấp tư sản của các dân tộc ấy, đó chẳng phải là sự thực rành rành hay sao? Thế đủ thấy rằng các đồng chí ấy nói cách khẳng định rằng đã có hai thứ văn hóa thì phải đưa đến thành hình hai thứ ngôn ngữ, rồi do đó phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ thống nhất, là hoàn toàn sai lầm.


   Khi nói đến hai thứ văn hóa, Lê-nin chính đã đứng trên nguyên tắc này mà lập luận: dù có hai thứ văn hóa cũng không thể đưa đến phủ định ngôn ngữ thống nhất và thành hình hai thứ ngôn ngữ được, mà khẳng định ngôn ngữ là phải thống nhất. Phái Bun từng chỉ trách Lê-nin, nói ông đã phủ nhận sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc, và giải thích văn hóa là “không có tính dân tộc”. Ai nấy đều biết Lê-nin đã kiên quyết phản bác cái luận điệu ấy. Lê-nin nói rằng ông phản đối là phản đối cái văn hóa của giai cấp tư sản mà không phải phản đối ngôn ngữ dân tộc, ông nhận cho rằng cái sự cần thiết của ngôn ngữ dân tộc là không còn chối cãi gì. Thế mà lại có một số đồng chí chúng ta đi theo đuôi phái Bun, thật đáng lấy làm lạ lắm.


   Còn như nói hình như Lê-nin đã phủ định sự cần thiết của ngôn ngữ thống nhất, thì hãy thử nghe lời Lê-nin nói như dưới đây:


   “Ngôn ngữ là công cụ giao tế rất trọng yếu của loài người, sự thống nhất và phát triển ngôn ngữ không bị trở ngại là một điều kiện rất trọng yếu, làm cho thích hợp với sự lưu thông thương nghiệp của chủ nghĩa tư bản hiện đại được phát triển thật tự do và rộng rãi, làm cho hết thảy cư dân đâu đó có thể tự do và rộng rãi “tổ chức nên các giai cấp của chính mình”.


   Đó đủ thấy rằng các đồng chí đáng yêu ấy của chúng ta đã giải thích cong quẹo quan điểm của Lê-nin.


   Sau hết, họ còn dẫn chứng lời nói của Xít-ta-lin, nói Xít-ta-lin có nói rằng: “Giai cấp tư sản và các đảng dân tộc chủ nghĩa của nó từ trước là, mà ở thời kỳ này cũng vẫn là lực lượng lãnh đạo chủ yếu của những dân tộc ấy”. Điều đó hoàn toàn đúng. Giai cấp tư sản và các đảng dân tộc chủ nghĩa của nó quả thật đương lãnh đạo văn hóa giai cấp tư sản, cũng như giai cấp vô sản và các đảng quốc tế chủ nghĩa của nó đương lãnh đạo văn hóa giai cấp vô sản vậy. Nhưng mà điều đó với ngôn ngữ “có tính giai cấp” có dính líu gì nhau đâu? Có lẽ nào các đồng chí ấy không biết rằng ngôn ngữ dân tộc là hình thức của văn hóa dân tộc, ngôn ngữ dân tộc đã có thể phục vụ cho văn hóa của giai cấp tư sản, cũng có thể phục vụ cho văn hóa của chủ nghĩa xã hội hay sao? Có lẽ nào các đồng chí ấy không biết một cái công thức có tiếng của người Mác-xít đề ra nói rằng hiện nay văn hóa của Nga, của Uy-cờ-ren, của Bạch Nga và các văn hóa khác nữa, theo nội dung của nó là xã hội chủ nghĩa, mà theo hình thức của nó là dân tộc, tức là theo ngôn ngữ của nó là dân tộc vậy – các đồng chí đó có đồng ý với cái công thức ấy của chủ nghĩa Mác chăng?


   Về chỗ này, sự sai lầm của các đồng chí ấy là, họ không thấy sự khác nhau giữa văn hóa và ngôn ngữ, lại cũng không hiểu rằng văn hóa, nói về nội dung của nó, là theo mỗi một thời kỳ mới của sự phát triển xã hội mà thay đổi, còn ngôn ngữ thì trong bao nhiêu thời kỳ về cơ bản vẫn không thay đổi, nó phục vụ cho văn hóa cũ thế nào thì cũng phục vụ cho văn hóa mới thế ấy.


   Nói tóm lại:


a) Ngôn ngữ dùng làm công cụ giao tế, trước kia đã và hiện nay vẫn đối với xã hội là thống nhất, đối với tổ-thành-viên xã hội là cộng đồng.


b) Sự tồn tại của tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng không hề phủ định mà là khẳng định sự tồn tại của ngôn ngữ toàn dân, bởi vì tiếng địa phương, tiếng quen dùng và tiếng lóng là nhánh nhóc của ngôn ngữ toàn dân, vả lại phục tùng ngôn ngữ toàn dân.


c) Cái công thức nêu lên rằng ngôn ngữ “có tính giai cấp” là một công thức sai lầm, không phải công thức của chủ nghĩa Mác.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sự thật về kinh tế tập thể và khoán sản phẩm ở Trung Quốc

Lenin: Phương pháp Tay-lo là phương pháp dùng máy móc nô dịch con người