Chính sách kinh tế mới - Martin Nicolaus
Chính sách kinh tế mới - Martin Nicolaus
(Trích từ cuốn sách "Sự khôi phục của chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô" của Martin Nicolaus)
__________
Những năm bị đế quốc can thiệp và nội chiến ở Nga, từ 1918 đến 1921, là lần chiến đấu gay go đầu tiên của chính quyền Xô-viết.
Nhà nước mới có xứng đáng với lòng trung thành của đa số công nhân và nông dân không? Bộ máy của nó có gắn kết và hiệu quả không? Các chính sách của ban lãnh đạo có đủ sức đối phó với sự tấn công đến từ mọi phía không?
Đến năm 1921 thì không còn nhiều nghi ngờ nữa. Chính quyền Xô-viết đã sống sót qua những thử thách có thể làm sụp đổ mọi quốc gia khác trên thế giới vào thời điểm đó.
"Chúng ta chắc chắn đã học về chính trị", Lenin phát biểu tại Đại hội Xô-viết toàn Nga lần thứ 8 vào tháng Mười hai 1920. "Ở đây chúng ta vững như đá. Nhưng mọi việc cũng như các vấn đề kinh tế còn rất đáng lo. Từ nay, ít chính trị sẽ là chính trị tốt nhất." (Toàn tập, tập 31, trang 514)
Việc khôi phục nền kinh tế đã đổ nát của đất nước trở thành ưu tiên chính trị cao nhất.
Trong số các biện pháp được áp dụng từ đầu năm 1921 với cái tên "Chính sách kinh tế mới" (NEP) là:
- Khôi phục quan hệ thương mại giữa thành thị và nông thôn. Hệ thống khẩn cấp thời chiến về việc trưng dụng ngũ cốc của nông dân đã phải ngưng lại. Hệ thống này được thay bằng, Lenin đã đề xuất và chính quyền Liên Xô đã thông qua, "thuế hiện vật". Nông dân không còn phải nộp toàn bộ lượng ngũ cốc dư của mình cho nhà nước, mà chỉ cần nộp một tỷ lệ cố định biết trước. Do đó, có một sự khuyến khích bằng vật chất để tăng sản lượng lương thực. Nông dân sẽ được để lại một phần ngũ cốc dư để trao đổi lấy các sản phẩm công nghiệp trên thị trường.
- Khôi phục buôn bán lẻ. Chính quyền Liên Xô giữ độc quyền nhà nước về buôn bán ngũ cốc ở cấp độ bán sỉ và kiểm soát hoạt động buôn bán sỉ đối với hầu hết các sản phẩm của ngành công nghiệp quy mô lớn đang hoạt động trên toàn quốc. Nhưng ở quy mô khu vực và địa phương, buôn bán lẻ tư nhân và buôn bán sỉ bị hạn chế được hợp pháp hóa trở lại. Các nhà buôn tư nhân được khuyến khích hoạt động.
- Khôi phục công nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, hoạt động trên cơ sở tư bản chủ nghĩa dưới sự giám sát lỏng lẻo của nhà nước.
- Kinh tế Liên Xô mở cửa lại một cách hạn chế đối với các khoản đầu tư nước ngoài, bằng cách đưa ra các nhượng bộ trên cơ sở khả năng sinh lợi cao cho các nhà đầu tư vào khai thác nguyên liệu và công nghiệp.
- Tổ chức lại các ngành công nghiệp thị trường đại chúng quy mô lớn đã được quốc hữu hóa, trên phạm vi lớn chúng được đặt trên cơ sở tư bản chủ nghĩa dưới sự giám sát và kiểm soát trực tiếp của nhà nước vô sản.
Trong tất cả các biện pháp này, biện pháp cuối cùng là táo bạo nhất và quyết liệt nhất. Đối với các ngành công nghiệp nhà nước quy mô lớn phục vụ cho thị trường tiêu dùng đại chúng - gần như tương đương với ngành công nghiệp nặng chế tạo máy - trụ cột kinh tế chính của nhà nước Xô-viết. Đây là nền tảng xã hội chủ nghĩa, trong đó các quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa trước hết phải trở nên vững chắc, và từ đó chúng sẽ lan rộng ra toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế.
Như Lenin đã nói vào tháng Năm 1921, "hàng hóa sản xuất bởi nhà máy xã hội chủ nghĩa và được dùng để đổi lấy thực phẩm do nông dân sản xuất ra không phải là hàng hóa theo nghĩa kinh tế chính trị của từ này, trong trường hợp nào mà chúng không chỉ là hàng hóa, chúng không còn là hàng hóa nữa, chúng ngừng là hàng hoá. "(Toàn tập, tập 32, trang 384). Nói cách khác, trong lĩnh vực này, và chỉ ở đây, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - được thiết lập trên nền sản xuất hàng hóa (như Marx đã phân tích trong cuốn Tư bản) - đang bị xoá bỏ và các quan hệ xã hội chủ nghĩa mới đang hình thành.
Tuy vậy, ở đây cũng phải rút lui phần nào. Vào tháng Mười một cùng năm, việc trao đổi trực tiếp (hàng đổi hàng) hàng hóa sản xuất lấy thực phẩm đã bị ngừng. Một lần nữa mối liên hệ giữa thành thị và nông thôn đã trở thành tư bản chủ nghĩa, với việc "mua bán bình thường" vì tiền và vì lợi nhuận tiền bạc được khôi phục. (Toàn tập, tập 33, trang 96)
Cũng như trong quan hệ giữa công nghiệp nhà nước và nông nghiệp tư nhân, đã có sự rút lui trong cấu trúc nội bộ của công nghiệp nhà nước. Như Lenin đã trình bày trong "Dự thảo luận cương về vai trò và nhiệm vụ công đoàn trong điều kiện của Chính sách kinh tế mới" (tháng Mười hai 1921 - tháng Một 1922): "Một thị trường tự do và chủ nghĩa tư bản, cả hai đều chịu sự kiểm soát của nhà nước, hiện đang được thừa nhận và đang phát triển; mặt khác, doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trên cơ sở lợi nhuận, tức là phần lớn chúng đang được tổ chức lại theo đường lối thương mại và tư bản chủ nghĩa. Ông nhắc lại: "Với thị trường tự do đang được thừa nhận và đang phát triển, trên một phạm vi lớn doanh nghiệp nhà nước sẽ dựa trên cơ sở thương mại, tư bản chủ nghĩa. "(Toàn tập, tập 42, trang 375-376)
Cụ thể, việc tái tổ chức này có nghĩa là mọi doanh nghiệp nhà nước (trừ các trường hợp ngoại lệ của ngành công nghiệp nặng) đều phải "làm ăn theo cách của riêng mình và có lãi." (đã dẫn, trang 376) Nghĩa là "điều hoàn toàn cần thiết là tất cả quyền lực trong nhà máy phải được tập trung vào tay của quản lý. Việc quản lý nhà máy, luôn được xây dựng trên nguyên tắc một người chịu trách nhiệm, phải có quyền lực độc lập để ấn định và thanh toán tiền lương, đồng thời phân phối khẩu phần ăn, quần áo làm việc và tất cả các vật tư khác; họ phải được hưởng quyền tự do tối đa để điều động, thực hiện sự kiểm soát chặt chẽ những thành công đã đạt được trên thực tế trong việc tăng sản lượng, trong việc khiến nhà máy trả lương theo cách của riêng nó và có lãi, và lựa chọn cẩn thận những nhân viên hành chính tài năng, có năng lực nhất, v.v. " (Đã dẫn, trang 379, xem thêm tập 33, trang 184-196.)
Ngoài ra, để tạo sự khuyến khích bằng vật chất, giám đốc nhà máy và tơ-rớt được trả một phần hoa hồng, do đó thu nhập của họ phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Cũng có những thử nghiệm về việc ràng buộc tiền lương của người lao động với lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tất cả những điều này và hơn thế nữa, sẽ xuất hiện trở lại vào 40 năm sau trong một vỏ bọc mới. (1)
Nhưng điều đáng chú ý khi nhìn lại bước ngoặt này trong chính sách của Liên Xô - được phác họa rất ngắn gọn ở đây - là sự hoàn toàn thẳng thắn mà Lenin đã đề cao và đặc trưng hoá nó. "Tự do thương mại nghĩa là tự do đối với chủ nghĩa tư bản. Chúng ta nói điều này công khai và nhấn mạnh. Ít nhất là chúng ta không che giấu nó. Mọi thứ sẽ rất khó khăn với chúng ta nếu cố làm vậy ." (Toàn tập, tập 32, trang 490)
Khoảng 40 năm sau, trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác, khi một ban lãnh đạo đảng hoàn toàn khác tiến hành khôi phục sự tự do thương mại còn sâu rộng hơn nữa "và tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước sâu sắc hơn nữa "trên cơ sở thương mại tư bản chủ nghĩa", sự thẳng thắn đã không còn, thay vào đó là thói đạo đức giả lố bịch. (2)
Sự rõ ràng và thẳng thắn của Lenin về tầm quan trọng của NEP đã chứng thực rằng trong suốt quá trình khôi phục một cách hạn chế và tạm thời của chủ nghĩa tư bản ở Liên Xô, giai cấp vô sản vẫn là giai cấp thống trị. Chủ nghĩa tư bản nhà nước mà NEP tạm thời nuôi dưỡng không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước trong các bản văn kinh tế học tư sản, trong đó tập thể bọn tư sản nắm quyền kinh tế - vì lợi ích của chính họ - phụ thuộc vào nhà nước và vào sở hữu nhà nước. Ngược lại, quyền lực chính trị của giai cấp vô sản đã khiến cho giai cấp tư sản phải phục tùng quyền lợi của nó. Cho dù giai cấp tư sản có quyền tự do lớn đến đâu trong các vấn đề kinh tế, quyền lực vô sản vẫn luôn nắm dây cương trong tay và nới lỏng hoặc thắt chặt sao cho phù hợp với các chính sách kinh tế và chính trị của nó.
Giai đoạn NEP trong lịch sử Liên Xô bao gồm ba giai đoạn lớn: rút lui theo hướng chủ nghĩa tư bản, củng cố và tiến công lên chủ nghĩa xã hội. Tất cả ba giai đoạn - không chỉ rút lui - đã tạo thành các phần của kế hoạch NEP. Tổng quát lại, NEP là chính sách cải tạo cơ sở kinh tế tư bản chủ nghĩa (và thậm chí là tiền tư bản chủ nghĩa) của Liên Xô thành cơ sở xã hội chủ nghĩa; đó là chính sách đặt "cơ sở kinh tế cho các lợi ích chính trị của nhà nước Xô-viết" (Toàn tập, tập 33, trang 73); đó là chính sách quá độ trong thời kỳ “chủ nghĩa tư bản đã bị đập tan nhưng chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng”. (Toàn tập, tập 30, trang 513) Như Lenin đã nói trong một trong những bài phát biểu cuối cùng của mình, vào tháng Mười một 1922, "Nước Nga Chính sách kinh tế mới sẽ trở thành nước Nga xã hội chủ nghĩa." (Toàn tập, tập 33, trang 443)
Chính Lenin, vào tháng Ba 1922, đã kêu gọi ngừng "rút lui", đó là giai đoạn đầu tiên của NEP. Những người kế nhiệm ông phải quyết định cách thức củng cố, khi nào và làm thế nào để chuyển sang tổng tấn công các phần tử tư bản.
Về mọi mặt, phần dễ nhất của cuộc chiến trong giai đoạn thứ hai và thứ ba của NEP là loại bỏ các nhà buôn tư nhân và các nhà sản xuất nhỏ. Từ giữa những năm 1920 trở đi, tỷ trọng tổng thương mại của đất nước nằm trong tay các công ty tư nhân giảm xuống, trong khi tỷ trọng của nhà nước tăng lên. Đến năm 1932, những nhà buôn tư nhân đáng ghét, những người được gọi là NEPmen (Nép-man), đã biến mất. Trong lĩnh vực sản xuất, nơi khoảng 1/8 số công nhân của cả nước làm việc cho doanh nghiệp tư nhân vào năm 1923, tỷ trọng của tư nhân đã giảm xuống dưới 1% vào năm 1932. (Xem các báo cáo định kỳ của Ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô, do Stalin trình bày tại các đại hội đảng, [Tác phẩm, tập 12 và 13] và "Đại cương lịch sử [xét lại] của giai cấp công nhân Liên Xô" của Y.S. Borisova và cộng sự, Moscow 1973.)
Việc hạn chế dần các khoản đầu tư nước ngoài và các khoản cho thuê gây ra ít vấn đề, vì những khoản này chưa bao giờ ảnh hưởng đến bất kỳ tỷ lệ sản lượng đáng kể nào. Rất ít nhà tư bản chấp nhận lời đề nghị của Lenin - đầu tư vào nhà nước vô sản.
Khó khăn và lâu dài hơn là cuộc đấu tranh để đảo ngược các biện pháp tư bản chủ nghĩa được áp dụng cho khu vực công nghiệp nhà nước trong giai đoạn đầu của NEP. Ở đây sự cần thiết đã quyết định sự tiến bộ: quản lý của các tơ-rớt công nghiệp nhà nước nhanh chóng sử dụng sự tự do của họ để tăng giá vượt quá mức mà quần chúng nông dân và công nhân có thể chi trả. Vào năm 1923 và 1924, nhà nước đã kiểm soát chặt chẽ các tơ-rớt, trước hết là áp đặt một biện pháp kiểm soát tín dụng cứng rắn và sau đó là kiểm soát giá cả, điều này đã hạn chế nghiêm trọng sự tự do hành động của các nhà quản lý. Vào mùa xuân năm 1924, khởi đầu nghiêm túc đầu tiên được thực hiện nhằm thiết kế một kế hoạch kinh tế dài hạn và toàn diện cho tất cả các ngành công nghiệp quốc hữu hóa; trong khi đó, nguyên tắc kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa được tiến hành dần dần trên cơ sở phối hợp giữa các ngành với nhau. (Xem E.H Carr, The Interregnum, Pelican Books 1969.) Đến năm 1927, Stalin đã có thể báo cáo rằng nhà nước hiện nay "có mọi khả năng để chỉ đạo nền công nghiệp đã quốc hữu hóa theo một cách có kế hoạch, như một doanh nghiệp công nghiệp thống nhất," (Tác phẩm, tập 10, trang 309); và vào năm 1929, quan hệ tư bản chủ nghĩa trong khu vực nhà nước đến lúc này đã bị xoá bỏ nên khả năng này, với việc thông qua kế hoạch 5 năm đầu tiên, lần đầu tiên - ít nhất là gần như - trở thành hiện thực.
Tuy nhiên, cuộc chiến khó khăn nhất trong suốt giai đoạn thứ ba và giai đoạn cuối của NEP không phải trong lĩnh vực công nghiệp mà là trong lĩnh vực nông nghiệp. Việc khôi phục thị trường tự do trong giai đoạn đầu của NEP, cũng là mục đích của nó, đã dẫn đến sự hồi sinh của sản xuất nông nghiệp - và đấu tranh giai cấp. Thay vì phải chịu nạn đói như trước kia, nhà nước Xô-viết vào năm 1922 đã có thể xuất khẩu ngũ cốc, và tình hình lương thực đã được cải thiện đáng kể. Nhưng sự hồi sinh của sản xuất nông nghiệp có nghĩa là sự hồi sinh của các quan hệ tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp: sự tập trung ngày càng tăng của địa tô, ngũ cốc dư, tư bản nằm trong tay phú nông (kulaks), sự bần cùng ngày càng tăng của bần nông và của những người lao động không sở hữu đất đai, những người buộc phải bỏ lên thành phố nơi mà họ đã làm trầm trọng thêm nạn thất nghiệp. Đến năm 1928-29, sau một loạt các vụ mùa bội thu, các kulaks đã phát triển đủ mạnh (họ nghĩ vậy) để chĩa mũi vào nhà nước Xô-viết. Họ từ chối trả thuế ngũ cốc, từ chối bán ngũ cốc trừ khi là bán với giá cắt cổ và ở một số khu vực đã xảy ra hoạt động phá hoại công khai và nổi dậy có vũ trang. Các hợp tác xã nông nghiệp, thứ được bắt nguồn từ những lời hướng dẫn của Lenin và đóng vai trò như một thành phần của NEP thì hầu hết đã trở nên vô dụng.
Tình trạng khẩn cấp này khiến nhà nước Xô-viết một lần nữa phải đối mặt với bóng ma của nạn đói và nội chiến.
__________
Chú thích của người dịch:
(1), (2): Ý nói những cải cách kinh tế mà thực chất là khôi phục chủ nghĩa tư bản do bọn lãnh đạo xét lại của Liên Xô thực hiện
Nguồn: https://www.revolutionarydemocracy.org/archive/nicolaus.htm#3
Nhận xét
Đăng nhận xét