Cơ chế của cỗ máy kinh tế Liên Xô - Hekuran Mara
Cơ chế của cỗ
máy kinh tế Liên Xô - Hekuran Mara
(Trích: “Chủ
nghĩa xét lại Liên Xô và cuộc đấu tranh của Đảng Lao động Albania nhằm vạch trần
nó”, Tirana, 1981, trang 170-175)
__________
Muốn chỉ ra được
bản chất giai cấp của cơ chế vận hành một hệ thống kinh tế nhất định, trước hết
cần phân tích đặc điểm cơ bản, bởi vì đây là cái phân biệt cơ chế này với
cơ chế khác; sau đó phân tích các phạm trù kinh tế, và cuối cùng là các hệ quả
kinh tế-xã hội của nó.
Theo quá
trình phân tích này thì nó chỉ ra rằng đặc điểm cơ bản, cơ chế vận hành hiện
nay của nền kinh tế Liên Xô được xây dựng - sự phát triển và quản lý của nó - không phải dựa trên một kế hoạch chung và thống nhất của nhà nước, mà là dựa trên
quy luật thị trường. Cơ chế điều tiết này được áp dụng bằng cách sử dụng các phạm
trù kinh tế như hàng hóa, sức lao động, vốn, lợi nhuận, chi phí sản xuất, cạnh
tranh, cung và cầu, sự hoạt động tự do của giá cả trên thị trường, tỷ lệ phần
trăm trên vốn, v.v. những hiện tượng kinh tế-xã hội như vô chính phủ, tự phát,
thất nghiệp, lạm phát, giá cả tăng, giá sinh hoạt tăng, khủng hoảng kinh tế,...
Đây cũng là nguyên tắc chỉ đạo quan trọng nhất đặc trưng cho cơ chế vận hành nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa của mọi nước tư bản hiện nay…
Để phù hợp với
cơ chế tư bản chủ nghĩa vận hành nền kinh tế Liên Xô, các doanh nghiệp Liên Xô
đã chuyển sang trạng thái được gọi là hoàn toàn tự cung tự cấp về tài chính, tức
là hoàn toàn độc lập về kinh tế. Một hệ quả tất yếu của điều này là hoạt động
kinh tế-tài chính của họ không còn chịu sự kế hoạch hóa tập trung. Giờ đây họ được
hoàn toàn tự do lựa chọn sản xuất những hàng hóa nào, với số lượng và phạm vi nào - trong điều kiện sự hoạt động tự do của thị trường - sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất
và giúp họ có thể chống chọi với sự cạnh tranh gay gắt. Các doanh nghiệp Liên
Xô độc lập đến mức mà đầu cơ và chợ đen đã trở thành một hiện tượng
bình thường trong hoạt động kinh tế và tài chính của họ. Dựa vào những điều trên
cộng với sự ra đời của các tổ hợp ngành và liên ngành theo kiểu độc quyền (cũng
được độc lập hoàn toàn về kinh tế), chúng ta có thể thấy rằng cơ chế vận hành của
toàn bộ nền kinh tế Liên Xô là một cơ chế tư bản chủ nghĩa điển hình mà bọn xét
lại Liên Xô đang cố che đậy bằng những cụm từ xã hội chủ nghĩa.
Bọn xét lại
Liên Xô vẫn khẳng định rằng nền kinh tế của họ được chỉ đạo bởi một kế hoạch nhà
nước, rằng có kế hoạch và do đó, là sự tập trung của nền kinh tế. Nhưng kế hoạch
nhà nước, như bọn xét lại Liên Xô quan niệm, hoàn toàn không phải là kế hoạch
xã hội chủ nghĩa; nó không bao gồm các chỉ tiêu cụ thể cho từng doanh nghiệp,
và do đó, doanh nghiệp không bị bắt phải tuân theo. Với tư cách là những
nhà sản xuất hàng hóa độc lập, các doanh nghiệp Liên Xô chỉ thừa nhận và phục
tùng một quyền lực kinh tế - quyền lực của lợi nhuận, của thị trường và các quy
luật tự phát của nó. Vì vậy, ngay cả sự tập trung tồn tại trong nền kinh tế
Liên Xô cũng là một sự tập trung quan liêu theo kiểu độc quyền.
Việc không có
một kế hoạch xã hội chủ nghĩa thực sự trong nền kinh tế Liên Xô cũng được chỉ
ra và xác nhận bởi những sự thật khác. Cái gọi là kế hoạch của doanh nghiệp Liên
Xô chỉ bao gồm các chỉ số về giá trị như lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ phần
trăm trên vốn và phân phối lợi nhuận giữa nhà nước và giai cấp tư sản xét lại.
Cái gọi là kế hoạch này không có chỉ số về số lượng và phạm vi sản phẩm cụ thể
được sản xuất, về các quỹ cơ bản hoặc quỹ lưu thông, hoặc bất kỳ chỉ số nào
liên quan đến quy mô lực lượng lao động và tiền lương, phân phối sản phẩm, đầu
tư cơ bản, v.v... Rõ ràng là doanh nghiệp Liên Xô không thể được đặt cho những
chỉ số như vậy, vì mục tiêu sản xuất của họ là lợi nhuận, vì sức lao động và tư
liệu sản xuất là hàng hóa, vì mọi thứ mà doanh nghiệp sản xuất ra đều đi
qua “cối xay của quỷ”, tức là thông qua cạnh tranh và thị trường. Trong những
điều kiện này, nói về sự tập trung, kế hoạch và việc lên kế hoạch chỉ giống
như đang cố gắng thuyết phục mọi người rằng, ngay cả khi mọi người đều nhằm vào
lợi nhuận, ngay cả khi thị trường và cơ chế tư bản chủ nghĩa vận hành nền kinh
tế, thì nền kinh tế này vẫn có thể được gọi là - và thực sự là - một nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa. Khẳng định này là bằng chứng rõ ràng cho logic
chống chủ nghĩa Mác của bọn xét lại Liên Xô.
Tư tưởng lý
luận Mácxít-Lêninnít và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đã
chứng minh rằng nền kinh tế thực sự xã hội chủ nghĩa phải là nền kinh tế được điều tiết và quản lý một cách có kế hoạch; nó là một nền kinh tế trong đó các vấn đề chính - các vấn đề đại diện cho nhu cầu cơ bản của xã hội và cho tỷ lệ chính của sự tái sản xuất mở rộng, được quyết định
và bảo vệ một cách có ý thức, tập trung, bởi một trung tâm duy nhất - nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ chế điều tiết duy nhất của nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa chân chính, cơ chế dựa trên các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và hoàn
toàn trái ngược với cơ chế điều tiết của thị trường và quy luật giá trị - đặc
trưng của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Ngay cả thị trường hàng hóa tiêu dùng đại
chúng trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng được điều tiết trong khuôn khổ kế
hoạch, phải tuân theo và phục vụ kế hoạch. Trong thị trường này, người dân lao
động ở thành phố và nông thôn có thể tiêu tiền mà họ kiếm được từ công việc, chọn
mua những hàng hóa trên thị trường theo sở thích và nhu cầu của họ. Mặt khác,
thị trường lao động, thị trường tư bản và tư liệu sản xuất không tồn tại trong
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
* * *
Để làm cho bản
chất tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế Liên Xô có vẻ ngoài hấp dẫn, đáng tin cậy
và là “lý thuyết” Mácxít-Lêninnít, bọn xét lại Liên Xô nắm bắt được vấn đề sử dụng
các quan hệ hàng hóa-tiền tệ trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Thực tế là
Mác và Ăngghen đã không hình dung về sản xuất hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội,
họ không đưa ra lời giải cho vấn đề sản xuất hàng hóa, hay việc sử dụng các
quan hệ hàng hóa-tiền tệ trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở này,
trước khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười thắng lợi, tồn tại một quan điểm phổ
biến là chủ nghĩa xã hội không tương thích với sản xuất hàng hóa, rằng chúng loại
trừ lẫn nhau. Vào thời điểm đó nó được chấp nhận như một tiên đề rằng sản xuất
hàng hóa không tồn tại trong chủ nghĩa xã hội. Cũng có một thực tế lịch sử là
trong thời kỳ chiến tranh, chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô đã nỗ lực xóa bỏ quan hệ
hàng hóa-tiền tệ. Tuy nhiên, cơ chế vận hành của nền kinh tế Liên Xô thời đó đã
chứng minh một cách thuyết phục rằng không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội nếu
không sử dụng sản xuất hàng hóa và các phạm trù kinh tế do nó tạo ra. Dựa vào
những kinh nghiệm có được trong giai đoạn chủ nghĩa cộng sản thời chiến, Lênin
đã dứt khoát từ bỏ giáo điều về sự không phù hợp của chủ nghĩa xã hội (và kinh
tế xã hội chủ nghĩa) với sản xuất hàng hóa. Lênin đã kết hợp việc xóa bỏ quan hệ sản
xuất hàng hóa-tiền tệ với chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế
giới.
Trong khi
đó, cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta đã chứng minh rằng sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa-tiền tệ trong nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa không có cùng những đặc điểm và bản chất như trong điều
kiện mà chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chiếm ưu thế, chúng
đã được biến đổi. Để chỉ ra sự khác biệt này, Stalin đã chứng minh rằng trong
chủ nghĩa xã hội có một nền sản xuất hàng hóa theo kiểu đặc biệt. Chính luận điểm
này của Stalin đã bị bọn xét lại Liên Xô công kích và bác bỏ gay gắt, nhằm bảo
vệ luận điệu tư sản của họ, rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có thể được
coi là nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nền kinh tế thị trường.
Ẩn sau “lập
luận” rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có thể được coi là nền kinh tế sản
xuất hàng hóa, nền kinh tế thị trường, bọn xét lại Liên Xô mở rộng quan hệ
hàng hóa-tiền tệ lên toàn bộ sản phẩm xã hội, bao gồm cả tư liệu sản xuất và sức
lao động. Vì vậy, sự kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động, với tư cách
là quan hệ kinh tế cơ bản, cái quyết định mục tiêu của sản xuất, không được thực
hiện trực tiếp thông qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung của nền kinh tế, mà là thông qua hoạt động mua bán, vì lợi ích của giai cấp tư sản xét lại, với tư
cách là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân
và nông dân Liên Xô tạo ra. Trên cơ sở đó, cơ chế của nền kinh tế Liên Xô vận
hành trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối và trao đổi.
Vì mục tiêu trực tiếp mà nền sản xuất xã hội dựa trên là bảo đảm lợi nhuận chứ không phải thỏa mãn nhu cầu của quần chúng lao động, vì nó dựa trên nền sản xuất hàng hóa chứ không phải sản phẩm xã hội trực tiếp, nên cơ chế vận hành của nền sản xuất này không thể khác hơn là thị trường với các quy luật vốn có của nó. Không một hệ thống kinh tế nào, kể cả hệ thống kinh tế đang vận hành ở Liên Xô ngày nay, có thể thoát khỏi sự kết hợp này, quy luật khách quan này.
.jpeg)
Nhận xét
Đăng nhận xét