Stalin bàn về chủ nghĩa bình quân



Stalin bàn về chủ nghĩa bình quân



1. 

   LÚT-VÍCH: - Tôi rất cảm tạ Ngài về lời tuyên bố đó. Xin cho phép tôi hỏi Ngài câu này: khi Ngài nói tới "chủ nghĩa bình quân" thì Ngài ngụ ý chế giễu danh từ bình đẳng phổ biến. Nhưng bình đẳng phổ biến là lý tưởng xã hội chủ nghĩa cơ mà? 

   XTA-LIN: - Cái thứ chủ nghĩa xã hội trong đó mọi người đều hưởng lương như nhau, nhận một số lượng thịt, một số lượng bánh mì như nhau, mặc những bộ quần áo như nhau, được cấp phát cùng một thứ sản phẩm với một số lượng ngang nhau, cái thứ chủ nghĩa xã hội đó quả là xa lạ đối với chủ nghĩa Mác.

   Chủ nghĩa Mác chỉ nói như thế này: chứng nào mà các giai cấp chưa bị hoàn toàn thủ tiêu, và chừng nào mà lao động, từ chỗ là phương tiện sinh sống, chưa trở thành nhu cầu bậc nhất đối với con người, chưa trở thành lao động tự nguyện vì lợi ích của xã hội, thì vẫn còn phải trả công theo lao động. "Làm theo năng lực, hưởng theo lao động"; đó là công thức mác-xít về chủ nghĩa xã hội, nghĩa là công thức về giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.  

   Chỉ đến giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản thì mỗi người mới sẽ làm việc theo năng lực của mình, nhưng được hưởng thù lao theo nhu cầu. "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". 

   Hoàn toàn rõ ràng là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những người khác nhau đều có và sẽ có những nhu cầu khác nhau. Chủ nghĩa xã hội tuyệt nhiên không phủ nhận là nhu cầu của người ta có những sự khác nhau về mặt sở thích, số lượng và chất lượng nhu cầu. Ông hãy đọc xem Mác đã phê phán Stiếc-nê như thế nào về xu hướng bình quân chủ nghĩa của ông ta; ông hãy đọc bài Mác phê phán tương lĩnh Gô-ta năm 1875; đọc các tác phẩm của Mác, Ăngghen và Lênin đã xuất bản tiếp đó, ông sẽ thấy các vị đó đã công kích chủ nghĩa binh quân gay gắt như thế nào. Chủ nghĩa bình quân không hề có một điểm nào là giống chủ nghĩa xã hội mác-xít cả. Chỉ có những người không biết về chủ nghĩa Mác mới có thể tưởng tượng một cách ấu trĩ rằng những người bôn-sê-vích Nga muốn tập trung tất cả của cải lại để đem chia đều. Đó là quan niệm của những kẻ không hề có một điểm nào giống chủ nghĩa Mác cả. Đó là khái niệm về chủ nghĩa cộng sản của những người chẳng hạn như những người "cộng sản" nguyên thủy thời Cơ-rôm-oen và thời Cách mạng Pháp. Nhưng chủ nghĩa Mác và những người bôn-sê-vích Nga chẳng hề có một điểm nào giống những người "cộng sản" bình quân chủ nghĩa đó cả.


(I.V. Xta-lin: "Nói chuyện với nhà văn Đức E-min Lút-vích", Toàn tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1965, t.13, tr.125-126.)



2. 

   Nguyên nhân của tình trạng lưu động về nhân công là gì? 

   Chính là do việc quy định tiền lương còn chưa hợp lý, hệ thống thang lương còn chưa hợp lý, là do chế độ bình quân "tả khuynh" trong lĩnh vực tiền lương. Trong nhiều xí nghiệp của chúng ta, các ngạch tiền lương đều định theo một cách gần như làm mất cả sự khác nhau giữa lao động thành thạo và lao động không thành thạo, giữa công việc nặng và công việc dễ. Kết quả của chế độ bình quân là người công nhân không lành nghề không thiết gì chuyển sang hạng công nhân lành nghề và như vậy là họ không có triển vọng được lên bậc, do đó họ tự cảm thấy như "đang nghỉ mát" trong sản xuất, chỉ làm việc một cách tạm bợ để "kiếm một ít tiền" rồi sau đó lại đi nơi nào đó ở chỗ khác để "tìm hạnh phúc". Kết quả của chế độ bình quân là người công nhân lành nghề buộc lòng phải chuyển từ xí nghiệp này sang xí nghiệp khác để cuối cùng tìm lấy một xí nghiệp mà người ta biết đánh giá đúng công việc thành thạo. 

   Do đó mà sinh ra phong trào "chung" là chạy từ xí nghiệp này sang xí nghiệp khác, và hiện tượng lưu động về nhân công. 

   Muốn trừ tiệt cái nạn ấy, phải bỏ hẳn chế độ bình quân và xóa bỏ hệ thống thang lương cũ đi. Muốn trừ tiệt cái nạn ấy, phải tổ chức một hệ thống thang lương có tính đến sự khác nhau giữa lao động thành thạo và lao động không thành thạo, giữa công việc nặng và công việc dễ. Không thể dung thứ tình trạng lương một công nhân cán thép cũng bằng lương một lao công quét nhà máy. Không thể dung thứ tình trạng lương một người thợ máy xe lửa cũng bằng lương một người làm việc biên chép. Mác và Lênin nói rằng sự khác nhau giữa lao động thành thạo và lao động không thành thạo vẫn sẽ tồn tại ngay cả dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và ngay cả sau khi đã thủ tiêu các giai cấp; rằng chỉ có dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa, sự khác nhau đó mới mất hẳn; rằng do đó mà ngay cả dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, cũng vẫn phải trả "lương" theo lao động, chứ không thể trả theo nhu cầu được. Song những người chủ trương bình quân của chúng ta trong số các cán bộ kinh tế và các cán bộ công đoàn đều không đồng ý như thế, họ cho rằng dưới chế độ xô-viết chúng ta, sự khác nhau đó đã biến mất rồi. Ai có lý, Mác và Lênin hay là những người chủ trương bình quân? Phải thấy rằng ở đây, chính Mác và Lênin đã có lý. Do đó rút ra kết luận là kẻ nào bây giờ lập ra hệ thống thang lương theo những "nguyên tắc" bình quân, không tính đến sự khác nhau giữa lao động thành thạo và lao động không thành thạo, thì kẻ đó đã xa rời chủ nghĩa Mác, xa rời chủ nghĩa Lênin. 

   Trong mỗi ngành công nghiệp, trong mỗi xí nghiệp, trong mỗi xưởng thợ, đều có những nhóm chủ yếu gồm những công nhân tương đối lành nghề, chúng ta phải, trước hết và chủ yếu, gắn chặt họ với sản xuất, nếu chúng ta muốn thật sự đảm bảo có số lượng công nhân cố định cho xí nghiệp. Chính những nhóm công nhân chủ yếu đó tạo thành một mắt xích cơ bản của sản xuất. Gắn bó được họ vào xí nghiệp, vào xưởng máy, có nghĩa là gắn bó được tất cả số công nhân, là xóa bỏ tận gốc hiện tượng lưu động về nhân công. Nhưng làm thế nào mà gắn bó được họ vào xí nghiệp? Người ta chỉ có thể gắn bó được họ bằng cách cho họ lên bậc, tăng lương cho họ, bằng cách tổ chức chế độ tiền lương sao cho tài năng của người lao động được đánh giá đúng mức. 

   Cho họ lên bậc, nâng cao mức lương của họ lên nghĩa là thế nào, việc đó có tác dụng gì đối với công nhân không lành nghề? Ngoài tất cả những điều khác ra, thì như thế có nghĩa là mở ra một tiền đồ cho những công nhân không lành nghề, là kích thích họ lên bậc, tiến lên hạng công nhân lành nghề. Chính các đồng chí cũng biết rằng chúng ta hiện đang cần đến hàng chục vạn và hàng triệu công nhân lành nghề. Nhưng muốn đào tạo những công nhân lành nghề thì phải khuyến khích những công nhân không có chuyên môn và cho họ có triển vọng lên bậc, lên cao nữa. Chúng ta đi vào con đường ấy càng mạnh dạn bao nhiêu thì càng hay bấy nhiêu, vì đó là phương pháp chủ yếu để khắc phục hiện tượng lưu động về nhân công.


(I.V. Xta-lin: "Hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới trong công cuộc xây dựng kinh tế", Toàn tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1965, t 13, tr. 66-71.)



3.

   Một người lê-nin-nít, chừng nào mà họ còn là người lê-nin-nít chân chính, đều biết rằng san bằng những nhu cầu và đời sống cá nhân chỉ là một hành động ngu xuân tiểu tư sản phản động, chỉ thích hợp với một môn phái nguyên thủy nào đó của bọn khổ hạnh chủ nghĩa, chứ không thích hợp với một xã hội xã hội chủ nghĩa tổ chức theo kiểu mác-xít, vì không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều phải có những nhu cầu như nhau và thị hiểu như nhau, phải có một đời sống cá nhân nhất luật như nhau. Và cuối cùng, có phải trong công nhân, nhu cầu cũng như đời sống cá nhân của họ không còn có gì khác nhau nữa chăng? Có phải như thế là công nhân còn xa chủ nghĩa xã hội hơn là những thành viên các công xã nông nghiệp chăng? 

   Hiển nhiên là những người đó cho rằng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi nhu cầu và đời sống cá nhân của tất cả các thành viên trong xã hội phải ngang nhau, phải bình quân, phải san bằng đi. Không cần phải nói, ai cũng thấy rằng giả thuyết đó không có gì giống với chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa Lênin cả. Chủ nghĩa Mác hiểu bình đẳng không phải là san bằng những nhu cầu cá nhân và lối sống, mà là xóa bỏ các giai cấp, nghĩa là: a) nhất luật giải phóng tất cả những người lao động thoát khỏi sự bóc lột, một khi bọn tư bản đã bị lật đổ và đã bị tước đoạt; b) nhất luật xóa bỏ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất đối với tất cả mọi người, một khi tư liệu sản xuất đó đã trở thành sở hữu của toàn thể xã hội; c) nhất luật bắt buộc tất cả mọi người phải làm việc tùy theo khả năng của mình, và đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho tất cả những người lao động được hưởng thụ tùy theo lao động của mình (xã hội xã hội chủ nghĩa); d) nhất luật bắt buộc tất cả mọi người phải làm việc tùy theo khả năng của mình, và đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho tất cả mọi người lao động được hưởng tùy theo nhu cầu của mình (xã hội cộng sản chủ nghĩa). Đồng thời, chủ nghĩa Mác xuất phát từ chỗ là những thị hiếu và nhu cầu của con người không phải và không thể nhất luật giống nhau và bằng nhau, về chất lượng cũng như về số lượng, cả trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa cũng như trong thời kỳ cộng sản chủ nghĩa. 

   Đó là quan niệm của chủ nghĩa Mác về bình đẳng. Trước kia cũng như bây giờ, chủ nghĩa Mác không hề thừa nhận một thứ bình đẳng nào khác thế cả.

   Nếu do đó mà rút ra kết luận cho rằng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi những nhu cầu của các thành viên trong xã hội phải bình quân như nhau, san bằng như nhau, nhất luật như nhau, thị hiếu của họ và đời sống cá nhân của họ phải nhất luật như nhau; rằng theo kế hoạch của những người mác-xít, tất cả mọi người đều phải mặc quần áo như nhau, và ăn những bữa ăn giống nhau, với số lượng bằng nhau, – thì như thế là nói láo và vu khống chủ nghĩa Mác. 

   Đã đến lúc phải hiểu rằng chủ nghĩa Mác là thù địch của chủ nghĩa bình quân. Ngay trong bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đã công kích chủ nghĩa xã hội nguyên thủy, không tưởng, cho nó là phản động, vì nó chủ trương một "chủ nghĩa khổ hạnh phổ biến và một chủ nghĩa bình quân thô lậu". Trong quyển Chống Đuy-rinh, Ăngghen đã dành hẳn ra một chương để phê phán nghiêm khắc "chủ nghĩa xã hội cấp tiến bình quân của Đuy-rinh, đối lập với chủ nghĩa xã hội mác-xít. 

   Ăngghen nói: 

   "Nội dung thật sự của yêu sách vô sản về bình đẳng, chung quy lại là yêu sách xóa bỏ các giai cấp. Tất cả mọi yêu sách về bình đẳng vượt qua phạm vi đó nhất định sẽ đi tới chỗ phi lý". 

   Lênin cũng đã nói: 

   "Ăngghen đã hết sức có lý, khi ông viết rằng: quan niệm bình đẳng ngoài sự xóa bỏ giai cấp là một thiên kiến hết sức ngu xuẩn và hết sức phi lý. Về quan niệm này đối với bình đẳng bọn giáo sư tư sản đã ra sức buộc tội chúng ta là muốn làm cho tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau. Chúng định đổ cho những người xã hội chủ nghĩa sự ngu xuẩn đó mà chính chúng đã bịa ra. Nhưng chính vì dốt nát, chúng đã không biết rằng những người xã hội chủ nghĩa và chính bản thân những nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại là Mác và Ăngghen, đã nói: bình đẳng chỉ là một lời nói rỗng tuếch nếu người ta không hiểu bình đẳng là xóa bỏ các giai cấp. Chúng ta muốn xóa bỏ các giai cấp, và đứng về mặt đó mà nói, chúng ta chủ trương bình đẳng. Nhưng nếu bịa đặt ra rằng chúng ta sẽ làm cho tất cả mọi người đều ngang bằng như nhau cả, thì thật là một câu nói cực kỳ rỗng tuếch và một sự bịa đặt ngu xuẩn của phần tử tri thức" ( xem tập XXIV, tr. 293-204). 

   Tôi thiết tưởng thật là rõ ràng. 


(I.V. Xta-lin: "Báo cáo công tác của Ban chấp hành trung ương…", Toàn tập, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1965, t.13, tr. 343-348.)









Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin

Sự thật về kinh tế tập thể và khoán sản phẩm ở Trung Quốc

Lenin: Phương pháp Tay-lo là phương pháp dùng máy móc nô dịch con người