Xuyên tạc về lịch sử lẫn lý luận trong công tác giảng dạy cán bộ ở Việt Nam
Xuyên tạc về lịch sử lẫn lý luận trong công tác giảng dạy cán bộ ở Việt Nam
Đây là một đoạn của một cuốn sách dành cho chương trình sau đại học ở Việt Nam được một người bạn gửi cho tôi, trong hình chụp có đoạn rất đáng chú ý:
“Rất tiếc rằng trong cùng một thời đại bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây với mô hình kinh tế chỉ huy, độc quyền nhà nước quá mức, nên đã rơi đúng vào cái “thối nát” mà V.I.Lênin cảnh báo. Không chấp nhận kinh tế thị trường tức là không coi các phát minh, sáng chế là những hàng hóa. Tệ hại hơn nữa là không thừa nhận “sức lao động” là hàng hóa. Vì vậy, không thể ứng dụng được các thành tựu khoa học và công nghệ ở mức cần thiết và cũng không ứng xử được đối với các nhà khoa học tài năng như…”
Nhẽ ra cá nhân tôi không định viết gì về đoạn này nếu như nó chỉ là một bài báo trên BBC, Fox News hay CNN, hoặc thậm chí báo Nga (nơi đầy rẫy các bài báo chống cộng). Tuy nhiên do đây là sách của một cán bộ cao cấp về chủ nghĩa Mác-Lênin nên tôi phải mổ xẻ vấn đề gấp.
Đầu tiên, đọc qua đoạn tôi trích ở trên ta thấy được hai vấn đề:
I. Do áp dụng nền kinh tế kế hoạch hóa (hay trong bài là chỉ huy) nên Liên Xô tụt hậu khoa học.
II. Liên Xô không xem “sức lao động” là hàng hóa trên thị trường giống như trong nền kinh tế thị trường là điều rất tệ hại (do họ sử dụng nền kinh tế kế hoạch hóa)
Vậy hai luận điểm trên có đúng không? Chúng ta hãy bắt đầu:
I. Do áp dụng nền kinh tế kế hoạch hóa (hay trong bài là chỉ huy) nên Liên Xô tụt hậu khoa học
Trả lời:
Cá nhân tôi hoàn toàn không đồng ý với ý kiến của tác giả về quan điểm này.
Trong bài viết, tác giả tuyên bố Liên Xô “Không chấp nhận kinh tế thị trường tức là không coi các phát minh, sáng chế là những hàng hóa.”
Về câu này, trước nhất cần làm rõ vấn đề: “Phát minh và sáng chế có phải là một không?”
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, phát minh và sáng chế được định nghĩa như sau:
“Phát minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực”
VD: Archimède phát minh định luật sức nâng của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn
“Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ số 5.
VD: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…
Ngoài ra, sáng chế còn được định nghĩa trong luật sở hữu trí tuệ như sau:
“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.
Như vậy rõ ràng phát minh và sáng chế là hai khái niệm khác nhau.
Tiếp tục, về mặt pháp luật mà nói, do phát minh và sáng chế đã khác nhau nên không thể có chuyện đem “phát minh, sáng chế” ra thị trường được. Cụ thể hơn, đặc trưng của việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện theo cơ chế quyền tác giả (Công ước Berne 1886 và luật Sở hữu trí tuệ) đã khẳng định pháp luật không ngăn cấm người khác sử dụng phát minh và phát hiện, nhưng cấm hành vi xuyên tạc bản chất phát minh và phát hiện đó. Trong khi đó, theo đặc trưng của việc bảo hộ sáng chế theo cơ chế quyền sở hữu công nghiệp (Công ước Paris 1883 và luật Sở hữu trí tuệ) thì pháp luật cấm người khác sử dụng sáng chế trong thời gian bảo hộ nếu chủ sở hữu sáng chế chưa cho phép.
Có thể thấy rõ ràng rằng chỉ có một quyền duy nhất là đem sáng chế ra thị trường.
Cơ sở tham khảo về luật pháp:
https://luatminhkhue.vn/ve-cac-thuat-ngu-phat-minh--phat-hien--sang-che.aspx
Tiếp tục luận điểm 1, về vấn đề phát minh-sáng chế và hàng hóa, tôi có thể khẳng định khi viết rằng Liên Xô không xem các sáng chế và phát minh là hàng hóa, tác giả ngầm coi rằng các nhà khoa học và các nhà sáng chế ở Liên Xô đã bị cướp không công sức. Tại sao tôi nói vậy? Vì hàng hóa, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Do sáng chế đều luôn có giá trị sử dụng nên khi nó không bị coi là hàng hóa thì chắc chắn 100% nó đã bị bỏ qua phần giá trị (tức nhà nước coi giá trị sáng chế bằng không hay nghĩa là sáng chế hiển nhiên thuộc về nhà nước với giá 0 đồng), đồng nghĩa “sáng chế” đã hóa thành ác quỷ với người tạo ra nó (do cật lực lao động nhưng bị cướp không). Vậy sự thật có đúng không? Hoàn toàn không. Theo như tư liệu luật pháp Liên Xô tôi tìm được ở năm 1931 và 1941 về quy định sáng chế, phát minh thì người sáng chế được ưu tiên rất nhiều quyền lợi như đi du học, tặng nhà ở, được trả tiền thù lao, v…v theo quy định của nhà nước chứ hoàn toàn không có vụ nhà nước cướp không (dĩ nhiên còn nhiều tư liệu khác nữa nhưng do trình độ tôi có hạn nên chỉ tìm được chừng này):
https://istmat.org/node/54710 (đọc phần X)
https://istmat.org/node/23242 (đọc mục VII)
Thử hỏi ngay cả ở nước ta, nước đã theo nền kinh tế thị trường thì việc đối đãi với đối tượng có sáng chế tiêu biểu có hơn được tiêu chuẩn quy định của Liên Xô?
=> Vậy kết luận cho luận điểm đầu tiên là gì? Đó là quan điểm cho rằng chỉ nền kinh tế thị trường mới đối đãi các nhà sáng chế, các nhà khoa học tốt nhất là một luận điểm phiến diện, nếu không muốn nói là xuyên tạc về Liên Xô. Thật sự ngay trong một nền kinh tế kế hoạch hóa, người ta vẫn đảm bảo quyền lợi cho các nhà sáng chế và nhà khoa học một cách bình thường, và điều này giải thích cho tại sao Liên Xô lại đạt nhiều thành tựu khoa học rực rỡ trong thế kỷ XX như vậy.
II. Liên Xô không xem “sức lao động” là hàng hóa trên thị trường giống như trong nền kinh tế thị trường là điều rất tệ hại (do họ sử dụng nền kinh tế kế hoạch hóa)
Trả lời:
Về luận điểm này, cá nhân tôi khẳng định tác giả bài viết xứng đáng nghỉ hưu được rồi. Đây không phải là xúc phạm danh dự, mà là nhận xét thật sự. Tại sao tôi nói vậy?
Muốn rõ ràng, ta phải quay về hai cơ sở cho việc SLĐ (viết tắt: sức lao động) thành hàng hóa. Trong giáo trình môn kinh tế chính trị Mác – Lê-nin ghi rõ SLĐ thành hàng hóa phải có hai điều kiện:
- Một là người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khả năng chi phối sức lao động của mình. Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu nó do bản con người có sức lao động đưa ra bán. Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình. Việc biến sức lao động thành hàng hoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô và chế độ phong kiến.
- Hai là người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất. Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống. Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu đẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá.
Trong chủ nghĩa tư bản, hai điều kiện này đã xảy ra và từ đó dẫn tới việc bóc lột SLĐ (học thuyết giá trị thặng dư). Tuy nhiên, dưới chế độ XHCN ở Liên Xô, vấn đề này đã khác đi hoàn toàn. Dù ở Liên Xô vẫn có điều kiện 1 là người lao động tự do về thân thể, nhưng do điều kiện 2 đã biến mất (công hữu TLSX (tư liệu sản xuất) sau CMT10) nên không thể nào bắt Liên Xô phải xem SLĐ như hàng hóa cả. Nếu nói như tác giả rằng không xem SLĐ như hàng hóa là cực kỳ “tệ hại”, thế có nghĩa tác giả cho rằng Liên Xô phải duy trì tư hữu TLSX chăng? Vậy là hóa ra Liên Xô phải bắt chước các nước tư bản chủ nghĩa chăng? Tôi thiết nghĩ nếu tác giả là một người giỏi lý luận Mác – Lênin thì không được “há miệng mắc quai” như vậy. Ngoài ra vào thời Brezhnev, ở Liên Xô thì câu chuyện SLĐ là hàng hóa đã quay trở lại (đây là điều mà tác giả cho rằng là không hề có ở Liên Xô), cụ thể:
- Đầu tiên là thay đổi chế độ sở hữu TLSX:
“Trong báo chí và các tài liệu ở Liên Xô kể từ thời kỳ Khrushchev trở đi vẫn tuyên truyền rằng ở Liên Xô vẫn là chế độ công hữu các tư liệu sản xuất. Nhưng trong thực tế, một nghịch lý đã bắt đầu xuất hiện vào giữa những năm 60, từ khi Quy chế về Doanh nghiệp sản xuất xã hội chủ nghĩa được Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô thông qua ngày 4/10/1965, đã trao cho doanh nghiệp quyền kiểm soát thực tế đối với các tài sản mà họ đang nắm giữ:
“Doanh nghiệp sẽ thực hiện các quyền chiếm hữu đối với các tài sản do họ kiểm soát” (Hoạch định, lợi nhuận và khuyến khích ở Liên Xô, Tập 2, New York, 1966, tr.291).
“Cách tiếp cận vấn đề duy nhất để quản lý nền kinh tế chính là cấp cho các doanh nghiệp những quyền bình đẳng trong việc mua tư liệu sản xuất” (Bunich: Phương pháp lập kế hoạch và kích thích, Cải cách kinh tế Liên Xô: Tiến bộ và các vấn đề, Moskva, 1972, tr36).
“Số tiền thu được từ việc bán các giá trị vật chất đại diện cho một tài sản cố định nào đó sẽ thuộc quyền sở hữu của chính doanh nghiệp” (Hoạch định, lợi nhuận và khuyến khích ở Liên Xô, Tập 2, New York, 1966, tr.293)
“Nhà nước không chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp và doanh nghiệp không có nghĩa vụ chịu sự ràng buộc từ nhà nước” (Hoạch định, lợi nhuận và khuyến khích ở Liên Xô, Tập 2, New York, 1966, tr.291)
Chúng ta thấy gì ở đây ? Doanh nghiệp biến thành các khối kinh tế độc lập, và sẽ được quyền toàn ý trong việc sử dụng tư liệu sản xuất và trao đổi mua bán với doanh nghiệp khác với tư cách là tài sản thuộc sở hữu của chính doanh nghiệp đó. Thật kỳ lạ, mặc dù các doanh nghiệp này là doanh nghiệp quốc doanh, nhưng sau cải cách kinh tế, chế độ sở hữu đã dần thay đổi chuyển từ sở hữu xã hội chủ nghĩa của quần chúng lao động sang sở hữu tư bản chủ nghĩa độc quyền Nhà nước của một số ít cá nhân.
Tại sao gọi là sở hữu tư bản chủ nghĩa độc quyền Nhà nước ? Vì người định đoạt tài sản công đó không phải là ban đại diện cho quần chúng công nhân ở trong doanh nghiệp, mà thực tế toàn quyền nằm trong tay Giám đốc doanh nghiệp.
“Giám đốc doanh nghiệp có thể nhân danh mình mà không cần sự ủy quyền nào khác để định đoạt tài sản và các quỹ của doanh nghiệp” (Hoạch định, lợi nhuận và khuyến khích ở Liên Xô, Tập 2, New York, 1966, tr.310-311)
“Các quyền của doanh nghiệp liên quan đến sản xuất và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp sẽ do Giám đốc của doanh nghiệp thực hiện” (Hoạch định, lợi nhuận và khuyến khích ở Liên Xô, Tập 2, New York, 1966, tr.299)
Nói đúng hơn, các công bộc của nhân dân Liên Xô, ngay khi ngồi vào các ghế Giám đốc này, nghiễm nhiên trở thành những nhà tư bản đúng nghĩa, có quyền định đoạt toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, thực hiện cơ chế kinh tế bóc lột giá trị thặng dư, không ngừng cắt giảm phúc lợi của người lao động để hoàn thành chỉ tiêu kinh tế, thậm chí là đút túi riêng. Quả không ngoa khi nói rằng, các giám đốc doanh nghiệp Liên Xô thời kỳ này chính là mầm móng của các nhà tài phiệt, mafia thời kỳ trước thềm và ngay sau khi Liên Xô sụp đổ.
Những nhà tư bản "mới" này chỉ chịu một sự ràng buộc, chi phối đó là họ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm vào cái ghế giám đốc đó. Nói cách khác, các nhà tư bản "mới" kia, các doanh nghiệp là công cụ phục vụ cho việc bóc lột giá trị thặng dư siêu lợi nhuận của Nhà nước Xô viết, vốn dĩ lúc này tồn tại không khác gì Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước. Đây là hệ quả của việc Nhà nước rơi vào sự thống trị của một nhóm thiểu số ít người bắt đầu kể từ khi "cuộc đảo chính chính trị" 5/3/1953 khi xóa bỏ hoàn toàn cơ chế dân chủ tập trung được xây dựng từ Đại hội 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô do Stalin chỉ đạo.
Các nhà bình luận người Mỹ cùng thời phải chế giễu rằng: “Nhiều nhà quản lý Liên Xô sẽ phù hợp với bất cứ vai trò nào trong các doanh nghiệp tại Hoa Kỳ và họ sẽ làm rất tốt” (Goldman: More Heat in Soviet Hotthouse, Tạp chí kinh tế Harvard, T.49, số 4, 7-8/1971, tr.15). Điều đó có nghĩa là gì ? Nghĩa là họ đã hoạt động như những nhà tư bản thực thụ trong nền kinh tế “xã hội chủ nghĩa” ở Liên Xô.
Thế còn gì là chế độ công hữu tư liệu sản xuất nữa khi mà trong thực chất là những nhà kinh doanh tư bản chủ nghĩa.”
- Tiếp tục, vì chế độ sở hữu TLSX đã thay đổi nên họ vấn đề SLĐ là hàng hóa đã quay trở lại (về mặt bản chất):
“Sự thoái hóa về chế độ sở hữu không thể không dẫn đến sự thoái hóa về nguyên tắc phân phối tiền lương. Trên thực tế, ở Liên Xô từ thập niên 60 trở đi, tiền lương công nhân vốn được trả đúng theo khối lượng công việc đã nhường chỗ cho một phương thức trả công khác mà ở đó tạo ra những điều kiện cho các nhà tư bản "mới" ra sức bóc lột, điều đó làm phân hóa một cách rõ rệt giữa thu nhập của các giám đốc những nhà tư bản "mới" và người lao động trong cùng một doanh nghiệp. Kết quả là “thị trường lao động” vốn đã bị Nhà nước Xô viết xóa bỏ trước kia như một tàn tích của chủ nghĩa tư bản, thì nay được khôi phục ngay trong lòng “chế độ xã hội chủ nghĩa”. Kết quả là sức lao động lại được xem là hàng hóa và bị bóc lột trong chế độ “xã hội chủ nghĩa” dưới thời Khrushchev
Marx cho rằng sức lao động trở thành hàng hóa cần có hai điều kiện. Một là, người lao động hoàn toàn tự do về thân thể, có nghĩa là phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và có quyền đem bán nó như một hàng hóa. Hai là, họ không có tư liệu sản xuất, do đó buộc phải bán sức lao động của mình. Công nhân ở Liên Xô thực sự là những người “tự do” về quyền định đoạt sức lao động, “người lao động có quyền tự do định đoạt sức lao động của mình. Nó thể hiện trong việc ký kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp” (A. Sukhov: Dịch chuyển lao động và nguyên nhân, Trong Báo cáo Khoa học Kinh tế, số 4, 1972). Công nhân Liên Xô lúc này đã bị tước đoạt tư liệu sản xuất mà đáng lý họ sở hữu dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng giờ đây nó lại nằm trong tay một số ít cá nhân, và họ không có con đường nào khác để sống ngoài việc quay trở lại làm việc và bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp Nhà nước Liên Xô, do các ông tư bản "mới" đang lãnh đạo.
Sự xuất hiện của “thị trường lao động” đã làm xuất hiện sự cạnh tranh trong việc tìm kiếm việc làm. Giá cả của sức lao động [như là hàng hóa] dao động giống như bất kỳ hàng hóa nào dưới tác động của quy luật cung và cầu. Chẳng phải cái này tương ứng với mệnh đề rất nổi tiếng mà Marx đã từng nêu trước đó về chế độ tiền lương dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đó sao: Tiền lương sẽ tăng hoặc giảm theo quan hệ cung cầu [theo thị trường].
Ở đâu thiết hụt tương đối trình độ lực lượng lao động, các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh với nhau để giành lấy nguồn nhân lực này: “Tình thế buộc các doanh nghiệp phải lôi kéo nhân sự, đặc biệt là những người có tay nghề, từ các doanh nghiệp cũ. Đó là thực trạng phổ biến” (E. G. Antosenkov: 'The Availability of Housing and Personnel Turnover', in: Izvestia Sibirskogo Otdelenya Akademy Nauk SSSR: Seriia Obshchestvennykh Nauk, No. 11, 1972). Như vậy, cấu trúc về sự phân bố hợp lý các nguồn lao động thích hợp theo kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã hoàn toàn bị loại bỏ. Tất yếu, các doanh nghiệp thiếu hụt nguồn nhân lực sẽ dẫn đến hoạt động ngày càng kém rồi phá sản, hoặc là họ phải đi đến chỗ được nhà nước tái cấu trúc hợp nhất với các doanh nghiệp khác. Để tồn tại, các doanh nghiệp buộc phải làm mọi cách, sử dụng mọi thủ đoạn để kiếm tối đa lợi nhuận của mình, bao gồm cả tham nhũng, hối lộ và mafia kinh tế.
Với việc hình thành một loại tư bản "mới" ở Liên Xô, phân hóa giàu nghèo đã trở thành một thực tế hiện hữu. Trong tác phẩm cuối cùng của mình, Stalin đã nêu bật lên một vấn đề mà Chủ nghĩa Cộng sản phải đi tới, đó là xóa bỏ dần sự khác biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Nhưng sự xuất hiện của “tư bản mới” đã làm cho sự khác biệt ngày càng lớn. Ví dụ như vào năm 1974, mức lương trung bình của Giám đốc doanh nghiệp ở Liên Xô sẽ cao gấp 7,2 lần mức lương của người công nhân. Tất nhiên, ở đây chưa tính đến những khoản thưởng riêng lẻ ở các doanh nghiệp chạy theo chỉ tiêu, hoặc ăn rơ, móc nối với các quan chức địa phương tham nhũng. Điều đó cũng có nghĩa là đời sống của người lao động Liên Xô bị suy giảm, phúc lợi xã hội cũng suy giảm.
Ngoài ra, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp cho người lao động lại do cá nhân Giám đốc quyết định: “..còn tiền thưởng cho tất cả người lao động khác do Giám đốc doanh nghiệp quyết định” (Manevich: Hệ thống tiền lương, trong Nền kinh tế kế hoạch của Liên Xô, Moskva, 1974, tr.251-252).”
Tài liệu trích dẫn: http://cccplenin.blogspot.com/2021/06/su-khoi-phuc-mam-mong-cua-chu-nghia-tu.html
=> Qua tư liệu trích dẫn ở trên, chúng ta đều thấy rõ như ban ngày một thực tế rằng khi đưa ra vấn đề công nhận SLĐ là hàng hóa thì tất nhiên cũng phải có điều kiện về việc thay đổi chế độ sở hữu TLSX (biến tư hữu TLSX thành phổ biến trong xã hội). Hệ quả của việc này đối với quá trình tiến lên CNXH của Liên Xô trong giai đoạn sau như thế nào thì ai cũng biết rồi: Một tầng lớp tư bản “đỏ” ra đời và dùng hết sức mình phá nát chính quyền Liên Xô với những tội ác mà đến nay chưa thể dung thứ được. (Nhiều kẻ còn chễm chệ ghế lãnh đạo ở các nước cộng hòa hậu Xô Viết). Xét cho cùng, đối với người có lý luận chính trị Mác – Lê-nin cao như tác giả cuốn sách, ủng hộ tư hữu mới là quan điểm đúng đắn chăng? Xin lưu ý rằng ở đây tôi tôn trọng cả quan điểm ủng hộ tư hữu nếu người đó không phải là Mác-xít – Lê-nin-nít, nhưng nếu là Mác-xít – Lê-nin-nít rồi thì bỏ hẳn cái suy nghĩ ủng hộ tư hữu đi, đừng xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin nữa.
Lưu ý:
Ai muốn đọc vấn đề này kỹ hơn có thể đọc bộ ba bài – “SỰ KHÔI PHỤC MẦM MỐNG TƯ BẢN Ở LIÊN XÔ”:
1) http://cccplenin.blogspot.com/2021/01/p1-su-lung-oan-cua-cac-tap-oan-chinh.html
2) http://cccplenin.blogspot.com/2021/04/su-khoi-phuc-mam-mong-cua-chu-nghia-tu.html
3) http://cccplenin.blogspot.com/2021/06/su-khoi-phuc-mam-mong-cua-chu-nghia-tu.html
III. Tổng kết
Tựu chung thì đây mới chỉ là hai lỗi đáng quan ngại trong cuốn sách mà tôi biết, phần chưa biết chắc còn nhiều hơn. Nhưng cái tôi cực kỳ lo ở đây là về vấn đề chuẩn lý luận Mác – Lênin trong dạy học chính trị ở Việt Nam. Chính vì những tài liệu sai một cách đáng quan ngại như thế này (sai ở mức độ xuyên tạc) mà rất nhiều người là cán bộ cấp cao ngộ nhận sai về vấn đề bóc lột, ngộ nhận sai về vấn đề kinh tế, thậm chí ngộ nhận sai về vấn đề giai cấp. Ai muốn biết ảnh hưởng của nó to lớn như thế nào thì cứ nhìn Liên Xô là rõ.
Lời cuối: Bản thân tôi cũng hay đọc các tác phẩm chống Mác, chống Liên Xô, chống Lênin, tuy nhiên thường tôi chỉ tham khảo và khi muốn tra sự kiện gì thì đều cẩn trọng gửi tư liệu đến một hai người bạn nhằm nhờ họ góp ý. Tư liệu ta tìm được đôi khi chỉ nằm trong thiên kiến xác nhận của ta, do đó hãy cởi mở xin nhận xét là cách tốt nhất để tránh sai sót nghiêm trọng như trong cuốn sách trên. Cảm ơn vì đã đọc đến đây.
Nguồn: Duc Anh Nguyen


Nhận xét
Đăng nhận xét