Mấy ý kiến về điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta - Trần Nguyên
Mấy ý kiến về điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta - Trần Nguyên
__________
Những nguyên tắc xuất phát bao giờ cũng là cơ sở để nghiên cứu cái cụ thể. Thiếu nó, sẽ mất phương hướng khi phân tích sự vật, hiện tượng và quá trình. Về điểm xuất phát mà từ đó nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tưởng như mọi người đã biết rồi, nhưng thực ra vẫn còn những vấn đề chưa nhất trí, nhất là vấn đề về nguyên tắc xuất phát.
Tôi xin nêu một số ý kiến mong góp phần làm sáng tỏ những vấn đề này:
1. Chúng ta thường nói: nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa, nửa phong kiến bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Vậy, "bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa" ở đây có nghĩa gì? Nghĩa là bỏ qua chủ nghĩa tư bản, hay là bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? Vấn đề này rất quan trọng, vì đây là hai cách đặt vấn đề khác nhau. Nếu hiểu sai thì lập tức sẽ ảnh hưởng ngay đến việc xác định đường lối, bước đi, hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong thời đại ngày nay, bên cạnh sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, lịch sử còn chứng kiến sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ các phương thức sản xuất tiền tư bản: Sự quá độ đó được thực hiện hoặc từ các xã hội mà ở đó các quan hệ tư bản chủ nghĩa mới chỉ phát sinh, hay chưa phát triển, hoặc từ các xã hội mà ở đó các quan hệ tiền tư bản còn phổ biến trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy là một nước nông nghiệp lạc hậu, đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng Việt Nam không phải xuất phát từ chỗ chưa có công nghiệp và giai cấp công nhân, chưa biết đến quan hệ tư bản chủ nghĩa. Ngay thời Pháp thuộc, nước ta cũng đã có một số cơ sở công nghiệp, những quan hệ tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện, giai cấp công nhân đã hình thành, tuy số lượng còn nhỏ bé. Còn nói đến miền Nam sau giải phóng, năm 1975, tình hình lại càng khác hơn. Ở đây chủ nghĩa tư bản đã phát triển rõ nét, không chỉ trong cơ sở kinh tế, mà cả trên kiến trúc thượng tầng.
Do vậy, khi nói nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, thì không phải là nói bỏ qua chủ nghĩa tư bản nói chung, không phải là nước ta chưa hề có thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa nào, mà chỉ có thể nói bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, vì các quan hệ tư bản chủ nghĩa đã hình thành, nhưng chưa phát triển ở giai đoạn chín muồi của nó. Đây là vấn đề mà lâu nay chưa đạt tới sự nhất trí.
Nếu như ta thấy Lênin đã phải tập trung bao nhiêu tinh lực, trí tuệ, với một khối lượng đồ sộ những tài liệu thực tế để làm rõ tính chất xã hội Nga vào đầu thế kỷ 20, thì ta sẽ thấy việc phân tích, làm rõ tính chất xã hội Việt Nam trong việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội có một tầm quan trọng đặc biệt như thế nào.
Làm rõ điểm xuất phát mà từ đó nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, là một vấn đề lý luận phong phú, một vấn đề thực tiễn sinh động. Vì nếu điểm xuất phát không được làm sáng tỏ, thì tiền đề để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn chưa được xác lập. Chẳng hạn xuất phát từ tính chất xã hội như thế nào để đề ra đường lối, bước đi, phương pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ; từ đó xác định đường lối, chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần – đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ; và cũng từ đó mà đặt vấn đề xây dựng Đảng của giai cấp công nhân như thế nào cho đúng, v.v...
Chúng tôi cho rằng, nếu chúng ta dành một phần công sức vào việc nghiên cứu, xem xét, với những căn cứ thực tế vững vàng, với sự phân tích có cơ sở khoa học, nhằm làm sáng tỏ điểm xuất phát mà từ đó nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì đó là một đóng góp rất có ý nghĩa.
2. Hiện nay nước ta đang ở giai đoạn nào của chủ nghĩa xã hội?
Đảng ta đã khẳng định nhiều lần rằng hiện nay cả nước ta đã ở trong và đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng hiện nay vẫn còn có hai khuynh hướng không đúng về vấn đề này: Một khuynh hướng có phần chủ quan, cho rằng miền Bắc đã qua hơn hai mươi năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tưởng rằng đã tạo ra được phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa rồi, nên vấn đề thời kỳ quá độ đã được giải quyết. Do đó, chưa nhận rõ cả nước vẫn đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, cuộc đấu tranh giữa hai con đường còn tiếp diễn, lại chịu thêm tác động của chiến tranh phá hoại về nhiều mặt do địch gây ra, nên rất khó khăn phức tạp. Tình hình ở nhiều nơi cho thấy trận địa xã hội chủ nghĩa không được củng cố, nhất là trên mặt trận lưu thông phân phối, thị trường có tổ chức có nhiều tiêu cực, thị trường tự do phát triển, nảy sinh một số tư sản mới...
Một khuynh hướng khác cho rằng, ta đang ở "ngưỡng cửa", đang ở "phòng chờ" của thời kỳ quá độ, tức là chưa bước vào thời kỳ quá độ. Có lẽ quan điểm này hiểu sai câu nói của Lênin nói rằng, đứng trên ý nghĩa vật chất, kinh tế, sản xuất mà xét , thì chúng ta còn chưa tiến đến "ngưỡng cửa" của chủ nghĩa xã hội và nếu không đi qua ở "ngưỡng cửa" mà chúng ta chưa đạt tới ấy thì chúng ta không thể tiến đến chủ nghĩa xã hội được (1). Cũng có chỗ Lênin dùng phòng chờ của chủ nghĩa xã hội ; chứ không phải ngưỡng của, "phòng chờ", của thời kỳ quá độ.
Nhận định trên rõ ràng là sai lầm, chưa hiểu rõ hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn nào của chủ nghĩa xã hội. Cần phải nắm vững quan điểm của Đảng và thời kỳ quá độ đã từng được khẳng định trong nhiều nghị quyết quan trọng. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IV đã chỉ rõ: "Thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa , sự bắt đầu của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, sự bắt đầu của thời kỳ thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản" (2). Gần đây, trong Nghị quyết của Bộ chính trị về công tác của thành phố Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh thêm: "Sự kết thúc của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo là sự mở đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó cũng là lúc bắt đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội".
Cần nhận rõ đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt, thời kỳ chuyển biến cách mạng triệt để nhất, sâu sắc nhất trên mọi mặt của đời sống xã hội. Để thực hiện sự chuyển biến cách mạng ấy, Đảng phải lãnh đạo các lực lượng cách mạng tiến công mạnh mẽ nhằm giành thắng lợi căn bản trong cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề ai thắng ai, giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Muốn thế, phải nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt, xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó là đường lối chung của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hiểu và làm khác đi, tức là lẫn lộn bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa và không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
3. Những thành phần kinh tế của thời kỳ quá độ và cách xem xét, giải quyết của chúng ta đối với cơ cấu năm thành phần ở miền Nam hiện nay.
Do đặc điểm của nước ta là từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cho nên khi mới bước vào thời kỳ quá độ, nền kinh tế nước ta có nhiều thành phần khác nhau. Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ từ năm 1954, cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã căn bản hoàn thành, nên hiện nay nền kinh tế có 3 thành phần: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể. Miền Nam bước vào thời kỳ quá độ từ năm 1975 , cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa mới bắt đầu, nền kinh tế hiện nay có 6 thành phần: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế công tư hợp doanh (chủ nghĩa tư bản Nhà nước), kinh tế tư bản chủ nghĩa , kinh tế cá thể (của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ chưa qua cải tạo).
Việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế là đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ, là điểm xuất phát từ đó chúng ta nghiên cứu, phân tích đặc điểm, bản chất của thời kỳ quá độ. Thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, có nghĩa là thừa nhận còn những quy luật khác nhau cùng hoạt động, đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp. Có thấy rõ điều đó thì mới hiểu đầy đủ, hiểu sâu hơn mục tiêu nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên mà chúng ta đang đi.
Cần tránh hai khuynh hướng không đúng trong nhận thức và giải quyết vấn đề này:
Một khuynh hướng nóng vội muốn có ngay chủ nghĩa xã hội trong mọi lĩnh vực; muốn giải quyết vấn đề ai thắng ai, ngay một sớm một chiều; muốn xóa sạch ngay lập tức các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể của những người sản xuất nhỏ, không biết sử dụng khéo léo, có lợi cho chủ nghĩa xã hội . Nghĩa là, muốn tạo ra những bước nhảy vọt bất kỳ mà không xem xét đến sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế , đến trình độ thấp kém của lực lượng sản xuất ở nước ta.
Một khuynh hướng khác thì lại muốn duy trì nguyên trạng các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể, cường điệu đặc điểm riêng, mà không tích cực cải tạo nó để dần dần biến nó thành kinh tế xã hội chủ nghĩa . Khuynh hướng này hiểu việc "bung ra" như là một chủ trương để cho kinh tế phi xã hội chủ nghĩa phình ra một cách tự phát, mà không đặt dưới sự kiểm tra, kiểm soát của nhà nước, hướng nó vào con đường phục vụ kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Cả hai khuynh hướng đều không đúng, đều không nắm được biện chứng của quá trình vận động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Cần nhận rõ, không phải các thành phần kinh tế đều có vị trí và tác dụng ngang nhau và không biến đổi. Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa phải giữ vai trò chủ đạo và ngày cùng chiếm ưu thế. Trên cơ sở tăng cường thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, ta phải biết sử dụng những năng lực của các bộ phận kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể theo hướng có lợi cho chủ nghĩa xã hội. Sử dụng nhưng phải hạn chế và cải tạo. Ngay trong quá trình sử dụng, ta phải áp dụng những chính sách để đưa các thành phần đó theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Quá trình biến chuyển của các thành phần kinh tế đó diễn ra một cách biện chứng trong suốt thời kỳ quá độ: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể phải ra sức chăm lo xây dựng củng cố và phát triển, làm cho những thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa này ngày càng lớn mạnh, từ chỗ hiện nay giữ vai trò chủ đạo tiến lên giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư bản chủ nghĩa từng bước được cải tạo và sẽ bị xóa bỏ. Kinh tế công tư hợp doanh còn tồn tại một thời gian, và đến khi không cần thiết nữa thì cũng sẽ được cải tạo thành kinh tế quốc doanh. Kinh tế cá thể được từng bước cải tạo và tổ chức lại. Trong một số ngành nghề tiểu thủ công và dịch vụ thì sản xuất cá thể còn tồn tại lâu dài, giữ vai trò phụ trợ cho kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, cần phải nhận thức sự biến đổi cơ cấu kinh tế nhiều thành phần một cách động, chứ không phải tĩnh. Nhưng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm nhiều chặng, và ngày nay chúng ta mới ở chặng đường đầu, vậy thì trong khi các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa chưa được cải tạo triệt để, thì ta phải sử dụng chúng như thế nào? Đây là vấn đề khá phong phú về lý luận và khá sinh động về thực tiễn.
Sau đây là những lời chỉ dẫn của Lênin. Lênin nói: "Chúng ta thường nhắc đi nhắc lại rằng chúng ta đang chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mà quên không nhận cho đúng, cho rõ "chúng ta", là những ai. Muốn có một ý niệm đúng về điều đó và khôn quên điều đó, cần phải nhớ danh sách tất cả các bộ phận tố thành...tất cả những chế độ kinh tế khác nhau, không trừ một chế độ nào, đã hợp thành nền kinh tế quốc dân của chúng ta" (3).
Ở đây Lênin nói đến cơ cấu 5 thành phần tồn tại một cách khách quan trong thời kỳ quá độ. Rõ ràng, việc các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa tồn tại trong phạm vi nào, đến lúc nào, sản xuất theo yêu cầu nào, chịu sự chi phối của nhà nước như thế nào, là tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vấn đề không phải là ta muốn duy trì con đường tư bản chủ nghĩa, mà vấn đề là dù ta muốn xóa bỏ ngay lập tức các thành phần ấy, cũng không làm được. Ta chỉ có thể cải tạo từng bước các thành phần kinh tế ấy, tiến đến xóa bỏ nó bằng những hình thức, bước đi thích hợp.
Bằng những hình thức nào? Lênin chỉ rõ: "Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản lại là tốt so với thời kỳ trung cổ, với nền sản xuất nhỏ, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của những người sản xuất nhỏ tạo nên. Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển ngay lập tức từ nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, nên trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản phẩm tự nhiên của nền sản xuất nhỏ và trao đổi. Bởi vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền sản xuất nhỏ và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất" (4).
Vậy ngay từ bây giờ ta có thể xóa bỏ ngay lập tức các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa hay không? Lênin cho rằng làm như vậy là dại dột và tự sát. Lênin nói "Nếu tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển của sự trao đổi tư nhân, không phải là quốc doanh, tức là thương mại, tức là chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ thì chính sách ấy là dại dột và tự sát đối với Đảng nào muốn áp dụng nó. Dại dột là về phương diện kinh tế, chính sách ấy là không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những Đảng nào định thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản" (5).
Lênin thường nói đến mắt xích trung gian, hình thức kinh tế quá độ là cái gạch nổi giữa nền sản xuất nhỏ và chủ nghĩa xã hội. Những hình thức kinh tế quá độ ấy vừa có nhân tố xã hội chủ nghĩa, vừa có nhân tố phi xã hội chủ nghĩa. Chính những hình thức kinh tế quá độ này đánh dấu nội dung kinh tế được xác định của thời kỳ quá độ: đó là mắt xích trung gian cần phải nắm lấy để vừa tránh sự nóng vội, vừa tránh bảo thủ hữu khuynh.
Những hình thức kinh tế quá độ không nên hiểu theo nghĩa hẹp, mà nó có ngoại diện khá rộng, bao gồm những hình thức chứa đựng mối quan hệ giữa người và người trong tất cả các mắt khâu của quá trình sản xuất, từ hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, hình thức kế hoạch, hình thức trả công, cho đến hình thức giá cả thị trường v.v... Nếu những hình thức kinh tế quá độ ấy được đưa ra kịp thời, chính xác thì nó có sức kích thích rất mạnh đến hứng thú của người lao động và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Ta cần khắc phục quan niệm về thời kỳ quá độ một cách trừu tượng, không có nội dung kinh tế xác định, tức là quan niệm về thời kỳ quá độ với đặc trưng kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần nhất, với quan hệ sản xuất đã chiếm địa vị thống trị tuyệt đối ngay khi nền kinh tế phổ biến vẫn còn là sản xuất nhỏ.
Cần phải nghiên cứu, tìm tòi, áp dụng những hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Trong mấy năm qua, chúng ta đã có những bài học khá sinh động về vấn đề này, đã tìm ra được những hình thức liên kết kinh tế rất đa dạng; liên kết giữa một cơ sở quốc doanh với một cơ sở kinh tế tập thể, liên kết giữa một số cơ sở quốc doanh hoặc hợp tác xã với những vệ tinh tư nhân thậm chí liên kết giữa quốc doanh, tập thể và tư nhân. Tất cả các hình thức quá độ ấy đều hướng vào việc phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, và đều được tổ chức dưới sự hướng dẫn của Nhà nước chuyên chính vô sản.
Ở đây, có vấn đề kết hợp tính nguyên tắc và tính linh hoạt trong chính sách. Một chính sách có nguyên tắc không loại trừ sự vận dụng nó một cách linh hoạt. Một chính sách được vận dụng linh hoạt không bao giờ thoát ly khỏi tính nguyên tắc của nó. Trong điều kiện một nền kinh tế còn nhiều thành phần, thì một chính sách có nguyên tắc là một chính sách có khả năng đề ra được những biện pháp quá độ, những hình thức tổ chức quá độ thích hợp để cải tạo và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, nhằm nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Một chính sách vô nguyên tắc, không có căn cứ khoa học, là một chính sách mở ra khả năng duy trì lâu dài thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế cá thể, chần chừ, chậm trễ không muốn cải tạo và xóa bỏ nó. Trong tình hình tiền mặt khan hiếm, vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu thiếu thốn, việc áp dụng hình thức huy động vốn trong các công tư hợp doanh, ở các công ty xuất nhập khẩu do Nhà nước nắm, nhằm cung cấp nguồn hàng, duy trì sản xuất, ổn định đời sống, thì đó là một chủ trương tốt, được vận dụng linh hoạt, sáng tạo. Nhưng, sẽ là vô nguyên tắc nếu như chủ trương đó lại mở rộng ra các hình thức cổ động kiếm lãi của nhà nước, mở cửa cho tình trạng tranh mua, tranh bán, đẩy giá lên, gây rối loạn thị trường và kích thích các thế lực tự phát tư bản chủ nghĩa phát triển. Do đó, sự chủ động sáng tạo trong chính sách bao giờ cũng được kết hợp đúng đắn giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt. Chỉ nhấn mạnh tính nguyên tắc mà không vận dụng một cách linh hoạt thì sẽ dẫn đến nguyên tắc cứng nhắc, không có sức sống. Ngược lại, chỉ đề cao tính linh hoạt, mà vứt bỏ tính nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tính tự phát, dẫn đến chủ nghĩa tự do .
__________
Chú thích:
(1) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 27. NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.431.
(2) Đảng cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. NXB Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.39.
(3) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 32. NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.453.
(4) V.I. Lênin: sách đã dẫn, tr.455.
(5) V.I. Lênin: Toàn tập, tập 32, NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.446.
Nguồn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu thời kỳ quá độ ở nước ta, NXB Khoa học xã hội, 1985, tr.76-87
Nhận xét
Đăng nhận xét