Hiểu đúng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp - Lê Duẩn
Hiểu đúng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp - Lê Duẩn
Cũng có đồng chí hiểu lầm rằng trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta coi nhẹ đấu tranh giai cấp. Vấn đề này tôi đã nói đến nhiều lần và các văn kiện của Đảng đã nêu rõ, nhưng vẫn còn có đồng chí hiểu không thấu đáo. Đảng ta lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ thắng lợi là nắm vững đấu tranh giai cấp, là tiến hành đấu tranh giai cấp rất mạnh và có hiệu quả. Đánh Mỹ và bọn tay sai đại biểu cho giai cấp phong kiến và tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt là đấu tranh giai cấp. Ta nêu cao ngọn cờ độc lập, tự do, ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng ở đây không chỉ có vấn đề chống đế quốc để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước mà, về thực chất, còn là nhằm giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng, giữa một bên muốn thúc đẩy miền Nam Việt Nam tiến lên con đường của chủ nghĩa xã hội, với một bên muốn kìm hãm miền Nam trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp giữa hai trận tuyến trên phạm vi thế giới, cuộc chiến đấu của nhân dân ta đã diễn ra gay go quyết liệt và phức tạp biết dường nào. Giờ đây miền Nam hoàn toàn giải phóng, bước vào cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ giai cấp bóc lột cuối cùng là giai cấp tư sản cải tạo các thành phần kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, đó chẳng phải đấu tranh giai cấp là gì?
Nhân dịp này, tôi nói một vài sự kiện lịch sử để các đồng chí hiểu thêm sự vận dụng chiến lược và sách lược của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, nhận rõ sự đúng đắn trong đường lối của Đảng, đồng thời thấy được những nhận thức lệch lạc cũng như những khuyết điểm xung quanh vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Khi Đảng ta mới ra đời, vấn đề quan trọng hàng đầu là đấu tranh để xác lập quyền lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; do đó, cần làm cho toàn Đảng nhận thức nhất trí về tính giai cấp công nhân của Đảng. Luận cương năm 1930 của Đảng ta vạch rõ Đảng là bộ tham mưu của giai cấp vô sản Việt Nam. Nhưng lúc bấy giờ một số đồng chí trong Xứ ủy Bắc Kỳ không đồng ý định nghĩa đó, đã đề nghị sửa lại: Đảng là bộ tham mưu của giai cấp vô sản và của quần chúng lao khổ. Trung ương không chấp nhận ý kiến đó, đã giải thích rằng hiểu vấn đề giai cấp công nhân như vậy là không đúng. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng là do vai trò lịch sử của nó quyết định chứ không phải chỉ do nó nghèo khổ và bị bóc lột. Trong các xã hội trước, giai cấp nô lệ, giai cấp nông nô cũng bị bóc lột và cùng khổ, nhưng không lãnh đạo được cách mạng. Trái lại từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, sự phát triển của nền kinh tế xã hội đã tạo ra cho giai cấp công nhân những tiền đề, những điều kiện để nó đóng vai trò lãnh đạo cách mạng và cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tất yếu đưa đến việc thiết lập chính quyền của giai cấp công nhân. Quần chúng lao khổ nói chung là bạn đồng minh gần gũi nhất của giai cấp công nhân, nhưng tuyệt nhiên không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng, do đó không thể coi giai cấp công nhân và quần chúng lao khổ là đồng nhất. Đảng ta đại biểu lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, nhưng Đảng chỉ là bộ tham mưu của một giai cấp mà thôi, đó là giai cấp công nhân giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử, đồng thời có năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cũng do không nhận thức được vấn đề cơ bản đó, một số đồng chí phân biệt vô sản "áo nâu” và vô sản "áo xanh"; cho rằng vô sản "áo nâu” tức là những công nhân vừa từ nông dân ra, thường làm những công việc lao động giản đơn và thu nhập thấp, mới thật sự cách mạng; còn vô sản "áo xanh" - những công nhân vào nghề lâu năm hơn, làm những việc lao động kỹ thuật phức tạp và thu nhập cao hơn - thì không cách mạng hoặc chỉ là cách mạng nửa vời. Trong cách phân biệt ấy, người ta đã lấy đồng lương và mức sống làm tiêu chuẩn để đánh giá năng lực cách mạng của giai cấp công nhân thay cho những căn cứ khoa học được định ra dựa trên quan điểm duy vật lịch sử. Một khái niệm như thế ấu trĩ và sai lầm biết bao nhiêu!
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta nhận định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi chính xác hơn là cách mạng dân tộc dân chủ) và giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta có hai yêu cầu cơ bản là giành độc lập cho dân tộc và đem lại ruộng đất cho nông dân. Đường lối chính trị của Đảng ta trong các thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nói chung đã phản ánh hai yêu cầu đó. Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến, cũng có lúc ta nặng về mặt này, nhẹ về mặt kia; phải trải qua thực tiễn cách mạng, Đảng mới thật sự thấu suốt và vận dụng một cách nhuần nhuyễn những vấn đề chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ.
Lúc Đảng mới thành lập, do yêu cầu khách quan phải đánh bại các xu hướng cải lương tư sản và tiểu tư sản để xác lập quyền lãnh đạo của mình, Đảng ta nhấn mạnh vấn đề chống phong kiến, địa chủ, đưa lại ruộng đất cho nông dân là đúng. Nhưng lúc bấy giờ có khuyết điểm là không nói đầy đủ rõ ràng về vấn đề giành độc lập cho dân tộc. Trong thời kỳ 1936 - 1939, để phối hợp với cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa phát xít trên thế giới, Đảng ta đã chủ trương lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn phản động thuộc địa và vua quan Nam triều. Đường lối chính trị đó bao hàm cả hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến; như vậy là rõ ràng. Nhưng về mặt tổ chức thì vấn đề độc lập dân tộc chưa được đề cập một cách thỏa đáng. Đảng chủ trương lập mặt trận cho cả Đông Dương là phù hợp với mối quan hệ khăng khít không thể tách rời giữa ba dân tộc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung; nhưng lúc bấy giờ chúng ta chưa nghĩ ra một hình thức tổ chức nào thể hiện được nhiệm vụ đấu tranh cách mạng trong phạm vi nước ta.
Đến Hội nghị lần thứ 61, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra một chuyển hướng chiến lược cực kỳ quan trọng. Hội nghị lần thứ 6 chủ trương tập trung lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, tạm gác vấn đề cải cách ruộng đất, chỉ nêu ra yêu cầu tịch thu ruộng đất của thực dân và Việt gian chia cho dân cày, và thực hiện giảm tô, giảm tức. Qua các Hội nghị lần thứ 72, thứ 83 của Trung ương Đảng, chủ trương đó càng rõ ràng thêm. Việc đấu tranh giải phóng dân tộc được nêu cao hơn bao giờ hết và có phương hướng giải quyết đúng đắn với việc thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) và đưa ra khẩu hiệu đoàn kết nhân dân, đánh đuổi Nhật, Pháp". Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, Trung ương Đảng nhấn mạnh "Tổ quốc trên hết" và chỉ đặt vấn đề giải quyết một số yêu cầu cấp bách về cách mạng ruộng đất nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Sau Cách mạng Tháng Tám và trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, trong khi tập trung mũi nhọn của cách mạng vào bọn đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai, Đảng vẫn thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng ruộng đất. Đến năm 1952, khi cuộc kháng chiến bước vào thời kỳ quyết liệt, Đảng chủ trương phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng” nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc kháng chiến cứu nước. Đó là một chủ trương đúng đắn và sáng tạo. Cải cách ruộng đất đã đạt được thành quả to lớn là tăng cường bồi dưỡng sức dân, đồng thời nó là một cuộc động viên chính trị sâu rộng chưa từng có, thúc đẩy mạnh mẽ cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ oanh liệt. Tuy nhiên, trong khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chúng ta có phạm sai lầm, chủ yếu là vì không đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong khi giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
_______
Nguồn: Lê Duẩn, Phát huy thắng lợi vĩ đại tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên (Bài nói tại Hội nghị truyền đạt Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 28 tháng 7 năm 1976), Lê Duẩn tuyển tập, tập 3, trang 71-75
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2018/6/3/12/LeDuantuyentap.pdf
.jpeg)
Nhận xét
Đăng nhận xét