Phong trào giải phóng phụ nữ và tự do tình dục ở Liên Xô

 


Một sự bịa đặt tráo trở của nick Facebook Vũ Nam Phương về chủ nghĩa Mác-Lênin


   Đồng Minh Những Người Cộng Sản xin thông báo về một ý kiến phản hồi của một số độc giả về bài viết của một KOL mạng tên là Vũ Nam Phương bình luận về quan điểm Mác - Lênin về vấn đề gia đình, chúng tôi xin được trích nguyên văn như sau (xem hình minh hoạ):


===“Qua đọc lịch sử Liên Xô mà cười rũ rượi quên cả mọi thứ đau nhức ạ.

Chả là cụ Marx xồm viết "gia đình là mầm mống cho tư sản", thế là ông Nin râu suy nghĩ rằng "muốn diệt tư sản thì phải xoá bỏ gia đình", thế là đưa áp dụng vào cuộc sống, những năm 192x ở Liên Xô có phong trào "giải phóng phụ nữ" hay "tự do tình dục" ...

Ở Liên Xô thời kì đó li hôn tăng mạnh, quan hệ tình dục bừa bãi, người dân còn lập các nhóm hơn chục người sống chung với nhau, tất nhiên cũng quan hệ tình dục chung, gọi là "nhóm Thụy Điển". Nghĩ mà kinh tởm như xã hội nguyên thủy nhỉ ?

Hậu quả của phong trào này, làm phá vớ các gia đình là tế bào của xã hội, bệnh tật tùm lum, nhều đứa con sinh ra ko có gia đình... lại một thảm hoạ ập đến. Thế là đến 1930 Liên Xô phải sửa sai, cấm luôn những phong trào "giải phóng phụ nữ", "tự do tình dục"... ở trên.

Các vị hiểu thế nào về câu "gia đình là mầm mống cho tư sản" của cụ Marx xồm” ===


   Có thể thấy đây là một luận điệu bịa đặt xuyên tạc cực kì trắng trợn  nhằm mục đích vu khống bôi nhọ Các Mác, Lênin, cũng như xuyên tạc và phủ nhận các thành tựu tiến bộ về gia đình và xã hội mà Liên Xô mang lại. Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày vắn tắt quan điểm của những nhà kinh điển Mácxít về vấn đề gia đình cũng như những thành tựu quan trọng Liên Xô đạt được trong vấn đề này để độc giả có thể hiểu đúng vấn đề và nhìn ra sự bịa đặt xuyên tạc trong luận điệu vu khống kia.


I. Nguồn gốc câu nói của Các Mác về vấn đề gia đình


   Thực ra câu nói của Các Mác được trích dẫn đầy đủ như sau:

   “Gia đình hiện đại không chỉ chứa đựng mầm mống của chế độ nô lệ (servitus), mà cả mầm mống của chế độ nông nô nữa, vì ngay từ đầu nó đã gắn liền với lao dịch nông nghiệp. Nó chứa đựng, dưới hình thức thu nhỏ, tất cả những mâu thuẫn về sau sẽ phát triển trong toàn xã hội và Nhà nước của xã hội đó”.

(Trích tác phẩm: Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước - Chương II - gia đình, mục gia đình đối ngẫu).

   Tác phẩm "Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước" được viết bởi Ph. Ăngghen vào năm 1884 tức là sau khi Mác mất được một năm. Trong tác phẩm này đã luận giải ý kiến của Mác và Ăngghen về chế độ gia đình từ thời kỳ mông muội cho đến hiện đại và với các hình thức hôn nhân từ chế độ quần hôn cho đến gia đình cá thể dựa trên chế độ tư hữu đều không hề giải phóng phụ nữ, thậm chí chế độ gia đình trong chế độ tư hữu còn là sự kìm kẹp đối với phụ nữ. Mác và Ăngghen đã rút ra những kết luận triệt để về vấn đề gia đình như sau:

- Thứ nhất: Trong xã hội có giai cấp, chế độ hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân phổ biến đối với người lao động, những người bị bóc lột trong xã hội; còn chế độ đa thê là sản phẩm của giai cấp thống trị và là đặc quyền của giai cấp thống trị.

   Trích dẫn: “Trước khi nói về chế độ hôn nhân cá thể, cái chế độ đã phát triển mau chóng sau khi mẫu quyền bị lật đổ, ta sẽ nói qua về chế độ nhiều vợ và chế độ nhiều chồng. Chúng đều chỉ có thể là những ngoại lệ, những xa xỉ phẩm của lịch sử; trừ khi chúng cùng tồn tại trong một xứ, mà điều này thì đương nhiên không thể có. Vì những người đàn ông bị chế độ nhiều vợ loại ra không thể tìm thấy sự an ủi với những người đàn bà bị loại ra do chế độ nhiều chồng, và vì nếu xét tới kết cấu xã hội, thì xưa nay số đàn ông và số đàn bà vẫn xấp xỉ nhau; nên cố nhiên là trong hai hình thức ấy, không có cái nào trở nên phổ biến được. Sự thật thì chế độ nhiều vợ là sản vật của chế độ nô lệ, và nó chỉ có ở một vài người có địa vị đặc biệt thôi. Trong gia đình gia trưởng kiểu Semite, thì chỉ người chủ gia đình, và cùng lắm là một vài đứa con trai của ông ta, mới có nhiều vợ; những người khác đành phải bằng lòng với chỉ một vợ. Ở khắp phương Đông ngày nay vẫn vậy, có nhiều vợ là đặc quyền của bọn giàu có và quí tộc, được thực hiện chủ yếu nhờ việc mua tì thiếp; còn quần chúng thì sống một vợ một chồng.”

- Thứ hai: Chế độ hôn nhân cá thể đối với giai cấp thống trị (mà cụ thể ở đây là giai cấp tư sản) thực chất được xây dựng dựa trên sự thống trị của đàn ông với phụ nữ để đảm bảo cho quyền tư hữu của giai cấp thống trị.

   Trích dẫn: “Như đã nói ở trên, gia đình cá thể (một vợ một chồng) nảy sinh từ gia đình đối ngẫu, vào khoảng giữa hai giai đoạn giữa và cao của thời dã man; thắng lợi quyết định của nó là một trong những dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu. Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực; người ta đòi hỏi điều đó, vì những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên. Nó khác gia đình đối ngẫu ở chỗ quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau nữa. Hiện nay theo lệ thường, chỉ chồng mới có thể chấm dứt hôn nhân và bỏ vợ. Vả lại, anh ta vẫn có quyền ngoại tình, dù chỉ là nhờ tập quán (Code Napoléon rõ ràng đã cho phép đàn ông làm việc đó, miễn là đừng mang tình nhân về nhà21); xã hội càng phát triển thì anh ta lại càng thực hiện quyền đó. Còn nếu người vợ lại nhớ tới hình thức sinh hoạt tính giao cổ xưa, và muốn khôi phục nó; thì cô ta sẽ bị trừng phạt tàn khốc hơn bất kì thời nào trước kia… Chính sự tồn tại của chế độ nô lệ bên cạnh chế độ một vợ một chồng, sự xuất hiện những nữ nô lệ trẻ đẹp, hoàn toàn thuộc về đàn ông; ngay từ đầu đã khiến chế độ một vợ một chồng có một tính chất đặc biệt: nó chỉ đúng với đàn bà thôi, chứ không đúng với đàn ông. Tính chất ấy vẫn còn đến tận ngày nay.”

   Từ hai kết luận này, Mác và Ăngghen  đã bóc trận sự giả dối và đạo đức giả của chủ nghĩa tư bản dưới vỏ bọc hôn nhân một vợ một chồng, nó chỉ được áp dụng người vợ, người bị gán cho trách nhiệm duy trì quyền tư hữu của giai cấp tư sản khi phải đảm bảo những đứa con của mình có một người cha xác định. Trong khi đó người chồng lại có thể công khai thực hiện chế độ đa thê dưới một hình thức khác như bao nuôi nhân tình hoặc chế độ mại dâm công khai hợp pháp đang được các nước tư bản hiện nay cổ xuý.

   Một người phụ nữ sẽ bị dư luận chỉ trích là lăng loàn, vô đạo đức nếu sống ngoại tình hoặc đa phu, nhưng một gã đàn ông trăng hoa, mèo mỡ, "sở hữu" nhiều nhân tình bên cạnh người vợ đối ngẫu của chính mình lại có thể được xem là mẫu người thành đạt, thành công. Đây là một sự bất công khủng khiếp đối với phụ nữ mà bất cứ ai biết suy nghĩ và còn chút tính người không khỏi bức xúc và day dứt lương tâm.

   Có thể thấy, khía cạnh đạo đức, chung thủy và đời sống hôn nhân một vợ một chồng thực tế chỉ xảy ra với gia đình của quần chúng lao động, chính họ đã duy trì chế độ hôn nhân một vợ một chồng hàng nghìn năm nay.


II. Nguồn gốc phong trào giải phóng phụ nữ và tự do tình dục


1. Phong trào giải phóng phụ nữ

   Phong trào giải phóng phụ nữ và tự do tình dục không phải là sản phẩm của Liên Xô như KOL Vũ Nam Phương đã xuyên tạc và bịa đặt. Phong trào giải phóng phụ nữ đã xuất hiện từ thời kỳ trước đó, và nó xuất phát từ việc phá vỡ chế độ giả trưởng ở nông thôn, khi mà tư liệu sản xuất nằm trong tay đàn ông và chế độ lao động nông nô chỉ cho phép đàn ông được tham gia vào hoạt động lao động sản xuất chính của xã hội và đủ nuôi sống cả gia đình. Còn người phụ nữ sống ở trong chế độ nông nô gần như bị buộc chặt vào gia đình thông qua việc nuôi dưỡng con cái.

   Tuy nhiên sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đòi hỏi việc tước đoạt hoàn toàn tư liệu sản xuất của người nông nô trong quá trình đẫm máu và bùn nhơ mà chúng ta đã biết là "tích luỹ nguyên thuỷ". Cái quá trình tích lũy tư bản đó không ngừng ném người lao động vào thị trường lao động với hai bàn tay trắng và buộc phải lao động không ngừng nghỉ để có thể tái sản xuất sức lao động. Chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi một lực lượng lao động tự do vô cùng lớn và không sở hữu tư liệu sản xuất, chính vì vậy nó đòi hỏi không chỉ đàn ông mà cả phụ nữ cũng phải tham gia vào thị trường lao động.

   Thế là "công cuộc" "giải phóng phụ nữ" đã diễn ra để biến người phụ nữ từ vị trí gia đình trở thành lao động xã hội, cùng với đàn ông tham gia vào guồng quay bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Một sự khác biệt dễ thấy giữa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền sản xuất phong kiến trước đó là sự tham gia của phụ nữ chân yếu tay mềm vào cả những công việc mang tính khổ sai, nặng nhọc, nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng, cũng như những công việc ngày xưa cấm phụ nữ tham gia vào như quân đội hay cảnh sát. Bởi lẽ dưới chế độ nông nô thì người phụ nữ đóng vai trò duy nhất là sinh đẻ và duy trì lực lượng lao động càng nhiều càng tốt để đảm bảo cho sự giàu có và trù phú của lãnh chúa phong kiến thông qua lao động nông nghiệp và nộp tô thuế. Ngược lại, chế độ tư bản chủ nghĩa, sự "giải phóng phụ nữ" cũng gắn liền với tình trạng nô dịch, đày đoạ và bóc lột thậm tệ người phụ nữ ở các hầm mỏ, các khu khai thác đầy rẫy nguy hiểm và cũng lao động 12h/ngày như đàn ông với sự bần cùng hóa đến cùng cực.

   Người phụ nữ không chỉ được "giải phóng" khỏi gia đình mà còn được "giải phóng" bằng chính con cái của họ, khi mà ở nước Mỹ người lao động nữ chỉ được nghỉ thai sản 3 ngày không hưởng lương và phải quay trở lại công việc ngay sau kỳ sinh nở khó khăn. Ở nước Anh và một số nước tư bản châu Âu, Các Mác đã mô tả sự "giải phóng" phụ nữ đến tàn nhẫn khỏi con cái họ, đó là các công nhân nữ thậm chí không có thời gian cho con bú vì họ phải làm việc trong nhà máy 10-12 tiếng một ngày và việc để duy trì đứa bé không đòi sữa mẹ thì họ phải cho cồn thuốc phiện vào sữa cho con để tạo cảm giác no giả trong ngày. Một sự "giải phóng" phụ nữ đến vô đạo đức và vô lương tâm.

   Ngày nay, ở một quốc gia tư bản, những công việc phụ nữ bị cấm làm dưới thế kỷ 20 lại được luật pháp cho phép phụ nữ tham gia, giả sử như lái tàu điện ngầm, một công việc có môi trường cực kỳ stress và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của phụ nữ. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà số lượng nam giới ở trong ngành lái tàu điện ngầm ngày càng giảm xuống thì việc cho phép phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động này là một cách duy trì mức trần lương tối đa đối với ngành lái tàu điện và tiếp tục việc bóc lột họ mà không phải tăng lương do có lực lượng lao động trù bị từ phía phụ nữ.


2. Phong trào tình dục tự do

   Trong tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", Ph. Ăngghen đã nói đến tự do tình dục, quan hệ tình dục bừa bãi diễn ra khá phổ biến ở giai cấp vô sản, nhưng nó không phải là thói quen của giai cấp vô sản hay sự vô đạo đức của họ cũng như việc những đứa trẻ không xác định huyết thống ra đời do sự vô đạo của bố mẹ nó.

   Trái lại sự ra đời của tình dục tự do, quan hệ bừa bãi không hôn nhân là do giai cấp vô sản phải sống trong môi trường lao động từ 12h-14h/ngày, điều kiện sinh hoạt khó khăn và sự sống quần thể của giai cấp công nhân trong các khu công nghiệp tập trung khi mà nhà tư sản muốn cắt giảm chi phí cho tiền lương của giai cấp công nhân càng tối thiểu càng tốt. Sự sinh hoạt tập thể lẫn lộn giữa nam và nữ, môi trường lao động khắc nghiệt không có cả thời gian giải trí khiến cho tình dục trở thành sự giải phóng cả về mặt thể chất lẫn tinh thần rẻ tiền nhất của giai cấp công nhân khi mà họ không có một thời gian rảnh rỗi nào để có thể tự do giải trí.

   Hơn nữa việc tự do giải phóng phụ nữ với chế độ tình dục công khai và hợp pháp là nền tảng cho chế độ mãi dâm công khai, khi mà giai cấp tư sản có thể tự do tìm kiếm thú vui xác thịt một cách công khai với nguồn cung cấp giá rẻ từ phía phụ nữ, những người không có cả tư liệu sản xuất và buộc mình phải lấy tình dục là cách sinh tồn duy nhất. Nó khác hoàn toàn với tình dục thời phong kiến, khi những người phụ nữ bị ràng buộc bởi một thứ khế ước bán thân bất bình đẳng thì tình dục mại dâm của chủ nghĩa tư bản là một thứ mua bán công khai trên thị trường lao động và người phụ nữ với tư cách là giai cấp vô sản nhưng không có tư liệu sản xuất thì buộc lòng phải bán dâm cho nhà tư bản như một sự bình đẳng tự nguyện về chính trị nhưng bất bình đẳng hoàn toàn về mặt kinh tế.

   Thứ tình yêu dựa trên vật chất của các siêu sao điện ảnh, các ngôi sao người mẫu trong làng giải trí thực chất cũng nảy sinh trên thứ "tình dục tự do" và chế độ mãi dâm công khai của chủ nghĩa tư bản.


III. Sự giải phóng thật sự cho phụ nữ dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại


1. Hoàn cảnh đời sống phụ nữ nước Nga thời trước cách mạng

   Muốn hiểu chính sách của Lênin và nước Nga Xô Viết về gia đình thì cần phải hiểu hoàn cảnh nước Nga trước cách mạng. Nước Nga trước cách mạng là một nước đế quốc, nhưng lại là đế quốc yếu nhất trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa bản thân nước Nga không phải là một nước tư bản chủ nghĩa hoàn chỉnh như Anh - Mỹ, trái lại nó là một nước tư bản nửa phong kiến, khi mà đại đa số người dân Nga vẫn chủ yếu là nông dân, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa của nước Nga chỉ phát triển tại một số trung tâm công nghiệp lớn, điều này sẽ có ảnh hưởng đến văn hóa và xã hội nước Nga như sau:

- Thứ nhất: Nước Nga chưa xây dựng được một đội quân lao động tự do đủ mạnh để làm đội quân vô sản và dự bị thất nghiệp cho chủ nghĩa tư bản, đa số lực lượng lao động ở Nga vẫn gắn liền với nền sản xuất nông thôn, khi mà phụ nữ bị gắn chặt vào với gia đình và sản xuất tự cung tự cấp.

- Thứ hai: do vẫn còn ảnh hưởng của nền sản xuất phong kiến, chính vì vậy vai trò của người phụ nữ ở nước Nga bị hạ thấp, người phụ nữ không được quyền lựa chọn chồng của mình ở nông thôn mà đa phần việc kết hôn sẽ dựa trên sự sắp đặt của gia đình, quý tộc địa phương và nhà thờ. Trong đó nhà thờ đóng vai trò quyết định trong việc công nhận hôn nhân, điều này có nghĩa là nếu các cặp nam nữ sống với nhau như vợ chồng nhưng không được nhà thờ công nhận thì họ sẽ không được coi là vợ chồng chính thức và những đứa con của họ sẽ bị coi là con hoang không có cha.

- Thứ ba: đó là nạn tảo hôn và đa thê diễn ra khá thường xuyên ở nông thôn, nơi mà các quý tộc địa phương chiếm quyền lực gần như tuyệt đối. Các quý tộc ở địa phương được quyền lựa chọn các cô gái chưa đến tuổi trưởng thành để cưới về làm vợ lẽ. Đây là một hủ tục diễn ra khá phổ biến ở nước Nga, thậm chí nhiều gia đình nông nô nghèo đã phải bán con gái cho các quý tộc địa phương làm vợ lẽ để kiếm một khoản tiền bù đắp cho đời sống thiếu hụt. Vấn nạn này đã được tổng kết rõ nhất qua tác phẩm “Người thầy đầu tiên” của cố nhà văn Aimatôp khi ông mô tả lại việc cô bé Antunai bị gia đình bán cho một tên quý tộc địa phương làm vợ lẽ thứ 5 và được thầy giáo Đuysen giải cứu.

- Thứ tư: phụ nữ không có quyền ly hôn mà chỉ có nam giới mới có quyền ly hôn, và việc ly hôn này được diễn ra do Nhà thờ chứng giám, đồng thời lý do ly hôn chỉ có nam giới được đưa ra. Điều này dẫn đến sự đầy đọa về mặt tinh thần của người phụ nữ bởi nếu bị ly hôn thì đồng thời họ cũng bị xã hội lên án, trong khi đó bản thân họ cũng không được quyền định đoạt hôn nhân của chính mình và có khi phải cưới những người mà mình không thích. Nạn ép hôn cũng diễn ra khá phổ biến tại xã hội nông thôn Nga khi quyền lực của quý tộc và nhà thờ gần như chiếm trọn tuyệt đối.

- Thứ năm: Ở các thành thị lớn tại Nga, khi mà chủ nghĩa tư bản phát triển hơn so với nông thôn thì sự bất bình đẳng nam nữ lại diễn ra theo cách khác, đó là phụ nữ không có quyền tham gia chính trị hoặc đấu tranh chính trị nào, trừ một thiểu số rất ít nằm trong giới quý tộc cấp cao và giai cấp tư sản Nga. Phụ nữ ở thành thị được quyền đấu tranh cho chế độ một vợ một chồng nhưng họ vẫn bị ràng buộc hôn nhân bởi vị trí giai cấp và nhà thờ. Hơn nữa phụ nữ tuy được tham gia một số công việc như nam giới, nhưng họ vẫn bị ràng buộc chặt chẽ với gia đình bởi công việc nội trợ và nhiều lúc không được quyền tự quyết trong việc định hướng phát triển công việc cho mình, điều này đặc biệt rõ nét với giai cấp công nhân ở thành thị, khi mà các công nhân nam bị bóc lột một cách kinh khủng trong các nhà xưởng, hầm mỏ, máy móc thì các công nhân nữ còn ở vào tình trạng tệ mạt hơn khi cũng bị bóc lột trong công xưởng, hầm mỏ và bên cạnh đó họ vẫn phải đảm bảo cả nghĩa vụ gia đình với các công việc nội trợ không tên và cực kỳ áp lực. Điều này khiến cho mức độ bóc lột của phụ nữ là gần như tuyệt đối và nặng nề hơn so với nam giới.

- Thứ sáu: Chính là nạn bạo hành gia đình diễn ra khá phổ biến trong tất cả các tầng lớp, giai cấp ở Nga, nạn bạo hành gia đình này xuất phát từ chính việc phụ nữ gần như không có bất kỳ một quyền lực chính trị nào nói chung, không được các thể chế nhà nước bảo vệ và ủng hộ. Chính vì vậy nên bạo hành gia đình đã trở nên phổ biến không chỉ đúng với giai cấp thống trị mà cả với giai cấp bị trị, đặc biệt ở vùng nông thôn khi mà chế độ gia trưởng vẫn tồn tại phổ biến gắn liền với chế độ nông nô cổ xưa.


2. Một số mục tiệu cách mạng đối với phụ nữ mà Lênin đã tổng kết

   Từ những hoàn cảnh trên Lenin đã tổng kết lại những mục tiêu cách mạng đối với phụ nữ mà cụ thể ở đây đã được chúng tôi tổng kết trong Lenin toàn tập tại các trích dẫn như sau: – Tập 1, 177 ‐ 184, 542 ‐ 543; Tập 3, 689 ‐ 691, 725 ‐ 727; Tập 15, 298 ‐ 299; Tập 23, 323 ‐ 326; Tập 25, 335; Tập 26, 87 ‐ 88; Tập 28, 853, 863; Tập 30, 163 ‐ 166; Tập 37, 220 ‐ 221; Tập 38, 190; Tập 39, 26 ‐ 28, 228 ‐ 233, 324 ‐ 326; Tập 40, 182 ‐ 183; Tập 42, 463 ‐ 465; Tập 45, 37 ‐ 39; Tập 49, 68 ‐ 70, 73 ‐ 77. Trong đó mục tiêu của cách mạng vô sản đối với phụ nữ trước hết là:

- Thứ nhất: giải phóng phụ nữ khỏi sự bóc lột của xã hội và gia đình trong chế độ nông nô. Giải phóng phụ nữ khỏi bạo lực gia đình.

- Thứ hai: xóa bỏ tình trạng kết hôn dựa trên các yếu tố chính trị, xã hội của địa phương. Xóa bỏ hoàn toàn nạn đa thê và tảo hôn.

- Thứ ba: cho phép tự do yêu đương và kết hôn, việc kết hôn phải được diễn ra dựa trên sự tự nguyện và được sự đồng ý của các bên, trong đó Nhà nước đứng ra bảo hộ hôn nhân của các cặp vợ chồng và chứng thực hôn nhân.

- Thứ tư: xóa bỏ tình trạng con hoang, con không được thừa nhận trong xã hội, đảm bảo mỗi đứa trẻ sinh ra phải được sự chăm sóc đầy đủ của cả bố lẫn mẹ trong trường hợp bố mẹ vẫn còn sống.

- Thứ năm: ưu tiên cho phép phụ nữ tham gia vào các công việc chính trị và quản lý nhà nước tại địa phương lẫn trung ương không chỉ bằng con đường công chức nhà nước mà thông qua các phong trào đoàn thể được quản lý bởi quần chúng nhân dân.

- Thứ sáu: ban hành một đạo luật ly hôn công bằng với cả nam lẫn nữ khi cho phép phụ nữ được quyền ly hôn với chồng chứ không hoàn toàn về phía nam giới như các đạo luật trước. Trong đó vấn đề được nêu ra là quyền thừa kế tài sản của con chung trong gia đình và con hoang cũng được công nhận là con đẻ, cũng được thừa kế tài sản. Nhà nước bảo hộ ly hôn để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ nhưng không khuyến khích ly hôn (ý kiến này được Lênin tiếp thu dựa trên sáng kiến của Rôda Lucxămbua). Lênin đề xuất thành lập các tổ chức của phụ nữ để giáo dục đầy đủ cho họ về quyền lợi của phụ nữ, nghĩa vụ với gia đình và hạn chế nạn ly hôn tràn lan thông qua công tác giáo dục tuyên truyền.

- Thứ bảy: xóa bỏ hoàn toàn đặc quyền tổ chức và công nhận hôn nhân của nhà thờ cũng như đặc quyền của giới quý tộc. Thay vào đó nhà nước đứng ra công nhận hôn nhân chính thức và bảo hộ sự kết hôn đó.


3. Sự giải phóng của cách mạng đối với phụ nữ ở nước Nga Xô Viết

   Từ 7 mục tiêu kể trên, Lênin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo cách mạng thành công, thành lập nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới và góp phần giải phóng phụ nữ trên toàn nước Nga. Sự giải phóng đó đã được thể hiện rõ ràng qua sự tiến bộ về pháp lý của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới.


a) Luật hôn nhân gia đình đầu tiên năm 1918:

   Ngay sau cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô Viết đã bắt tay vào soạn thảo một bộ luật mới về hôn nhân và gia đình, được chính thức thông qua vào tháng 10 năm 1918. Bộ luật về hôn nhân và gia đình được xem là khung pháp lý tạm thời cho giai đoạn quá độ khi nghĩa vụ và bảo hộ từ luật pháp và nhà nước còn cần thiết, trong giai đoạn cao hơn của xã hội thì trẻ em, người già, người tàn tật sẽ được chăm sóc bởi cộng đồng việc nội trợ được trả công và phụ nữ không bị phụ thuộc kinh tế vào đàn ông.

   Luật 1918 thừa nhận sự bình đẳng hoàn toàn giữa phụ nữ và đàn ông trong hôn nhân, cho phép người vợ giữ riêng thu nhập và tài sản của mình và bạn đời không có quyền tuỳ tiện đòi hỏi. Luật 1918 xoá bỏ quyền lực của nhà thờ trong việc kết hôn và li dị, tuyên bố hôn nhân về dân sự là hình thức hôn nhân hợp pháp duy nhất. Các ràng buộc về li dị được gỡ bỏ, việc ly dị có thể được thực hiện khi một trong hai bên đòi hỏi. Toà không quy định thời hạn cấp dưỡng khi li hôn nhưng thường chỉ giới hạn cho người tàn tật vì cho rằng mỗi bên có thể tự lao động nuôi mình. Luật 1918 xoá bỏ sự kì thị với con ngoài giá thú, quy định con nào sinh ra cũng là con và người lớn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Nếu mẹ không xác định được ai là bố, toà án sẽ yêu cầu tất cả những người đàn ông từng ăn nằm với bà mẹ phải cùng chăm lo cho đứa bé. Luật cũng cấm nhận con nuôi vì lo ngại rằng, trong xã hội nông dân gia trưởng thì việc nhận con nuôi là một hình thức bóc lột lao động tinh vi. Trẻ mồ côi được chăm sóc ở các cơ sở do nhà nước thành lập.

   Phá thai được hợp pháp hoá vào năm 1920 nhưng chỉ được tiến hành ở các bệnh viện được nhà nước cho phép. Việc hợp pháp hoá phá thai được xem là biện pháp “không cấm được thì quản” trước tình trạng phá thai chui, phá thai lậu diễn ra tràn lan. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tình trạng sinh con ngoài giá thú hoặc sinh con không qua kết hôn bởi sự hỗn loạn của nước Nga thời kỳ cuối năm 1918 đến năm 1922, khi nước Nga đang trong giai đoạn nội chiến chống Bạch vệ và chống sự xâm lược của 14 đế quốc.

   Luật 1918 mang lại nhiều thay đổi căn bản so với luật lệ thời kỳ Nga hoàng, và có nội dung rất tiến bộ so với thời đại. Lần đầu tiên ở Nga, sự bình đẳng giữa nam và nữ, vợ và chồng được thừa nhận về mặt pháp lý. Người phụ nữ có phương tiện pháp lý để tự mình giải phóng bản thân khỏi những xiềng xích trong các cuộc hôn nhân bất bình đẳng. Sự phân biệt phi lý về nguồn gốc xuất thân của trẻ em bị xoá bỏ, đảm bảo về mặt pháp lý mỗi đứa trẻ sinh ra phải được sự chăm sóc đầy đủ của người lớn.

   Tuy nhiên, bộ luật năm 1918 cũng có một số hạn chế do chưa dự trù hết tác động của tình trạng kinh tế và xã hội cũng như chủ nghĩa cá nhân tư sản tồn tại trong giai đoạn giao thời. Tình trạng ly dị và phá thai tăng nhanh đến mức lo ngại. Các quy định thoáng về hôn nhân, tài sản riêng của vợ chồng, hạn chế trong việc chu cấp sau hôn nhân, cũng như chủ trương bao cấp việc chăm sóc trẻ côi cút là cái cớ cho những kẻ ích kỉ thẳng tay “li dị” để ruồng bỏ vợ con và ruồng bỏ trách nhiệm đối với con cái. Việc “li dị” như vậy là tai hoạ với phụ nữ trong thời điểm tình trạng thất nghiệp còn cao trong giai đoạn đầu của NEP, cũng như việc số lượng trẻ mồ côi, lang thang cơ nhỡ trong giai đoạn này vượt quá khả năng chu cấp của các cơ quan nhà nước. Đồng thời quy định nhiều ông bố chăm sóc cho đứa con bị nhiều phản ứng tiêu cực từ dư luận.

   Điều này cho thấy những kẻ hỡ trong luật hôn nhân gia đình năm 1918, nguyên nhân của những kẽ hở này là do việc chính quyền Xô viết mới non trẻ chưa nhận thức được hết thực trạng xã hội, việc xây dựng và ban hành luật mới chỉ được thực hiện ở các cấp quản lý cao tại các thành phố lớn. Trong khi đó việc thực thi và tuyên truyền luật vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các vùng nông thôn khi mà nhận thức của nông dân là hạn hẹp. Bên cạnh đó luật hôn nhân gia đình không phải công cụ bảo vệ duy nhất cho tình trạng hỗn loạn của dân số Nga lúc bấy giờ khi mà việc nam nữ sống như vợ chồng nhưng lại không có sự thừa nhận của Nhà thờ và môi trường nửa công nghiệp, nửa nông nghiệp đã đẩy việc nam nữ sống với nhau mà không có sự chia tách rõ ràng giữa các bên. Chính vì vậy các nhà soạn thảo Luật thời bấy giờ chỉ công nhận luật hôn nhân gia đình năm 1918 là một bộ luật tạm thời trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Xô viết còn non trẻ và nó bắt buộc phải bị thay thế.


b) Luật hôn nhân gia đình năm 1926:

   Luật hôn nhân gia đình năm 1926 được ban hành để khắc phục những thiếu sót của luật năm 1918, bao gồm tình trạng phụ nữ thất nghiệp bị chồng cũ bỏ bê không chu cấp, cũng như tình trạng số lượng trẻ mồ côi vượt quá khả năng chu cấp của nhà nước, và tình trạng các cặp đôi sống với nhau mà không kết hôn chính thức.

   Quy trình li dị tiếp tục được giản hoá, các vụ kiện tụng li dị giao cho các cơ quan hành chính chuyên môn xử lý thay vì cho toà. Vợ hoặc chồng có quyền đăng ký li dị mà không cần báo cho bên kia biết. Chi phí ly dị chỉ mang tính tượng trưng. Tuy nhiên, so với luật 1918, luật 1926 đưa ra các nghĩa vụ chặt chẽ hơn về cấp dưỡng sau ly hôn. Vợ chồng được có tài sản chung để người vợ nội trợ có chu cấp nếu li dị. Người tàn tật được chu cấp 1 năm và người thất nghiệp hay hoàn cảnh khó khăn được chu cấp 6 tháng. Luật cũng mở rộng phạm vi chu cấp sang con cái, bố mẹ, anh chị em, ông bà của đối tượng.

   Quy định về nhiều người đàn ông cùng nuôi đứa trẻ ngoài giá thú mà không biết bố là ai bị bãi bỏ, thay vào đó toà án chỉ định một trong số những người ăn nằm với bà mẹ làm ông bố chính thức cho đứa bé. Luật 1926 bãi bỏ việc cấm nhận con nuôi và khuyến khích nông dân nhận trẻ mồ côi, đứa con nuôi phải được thừa nhận là con cái chính thức trong nhà.

   Để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng và của cha mẹ với con cái, luật 1926 đặt ra định nghĩa pháp lý về quan hệ vợ chồng, trong đó thừa nhận các cặp đôi sống với nhau như vợ chồng đã lâu thì xem như vợ chồng chính thức, với điều kiện là phải sống chung đã lâu, cùng một hộ gia đình, cùng nuôi con, có bên thứ ba làm chứng. Điểm mới của luật hôn nhân năm 1926 so với luật hôn nhân năm 1918 đó chính là Nhà nước chính thức hợp pháp hóa việc nam nữ sống chung như vợ chồng để yêu cầu những nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ gia đình cao hơn, đây là điểm tiến bộ khi buộc cả vợ lẫn chồng phải có trách nhiệm với gia đình và con cái thay vì việc chỉ có người phụ nữ phải có trách nhiệm với gia đình và con cái còn người đàn ông hoàn toàn có thể sống vô trách nhiệm, chối bỏ gia đình và con cái giống như chế độ hôn nhân thời Nga hoàng.

   Có thể thấy điểm nổi bật nhất của luật 1926 là hoàn thiện các cơ chế bảo vệ về mặt kinh tế cho phụ nữ và trẻ em – đối tượng bị tổn thương nhiều nhất do các vụ ly dị vào thời điểm đó, khắc phục điểm hạn chế luật 1918 vốn chưa tính đến tình trạng thiệt thòi về kinh tế đối với phụ nữ trong lúc này. Đồng thời, chức năng chu cấp kinh tế cho trẻ em được chuyển giao về cho gia đình và nhà nước chỉ gián tiếp đóng vai trò điều tiết thông qua luật pháp. Các học giả tư sản đánh giá quy định về chu cấp và việc cho phép nhận con nuôi đây là bước “quay về gia đình truyền thống”, tuy nhiên điều này chỉ là do trình độ tổ chức sản xuất và phân phối chưa đủ phát triển để các tổ chức cộng đồng quy mô lớn có thể hoàn toàn thay thế gia đình cá thể trong nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, phụ nữ và các đối tượng dễ bị tổn thương. “Gia đình truyền thống” theo cách hiểu phản động và gia trưởng của Nga hoàng đã hoàn toàn bị xoá bỏ, thay vào đó là gia đình mới dựa trên sự bình đẳng, tự nguyện và tinh thần trách nhiệm cao đến từ hai phía. Sự đánh tráo khái niệm của các học giả tư sản ở đây là đánh tráo về hình thức, gia đình truyền thống một vợ một chồng thực chất đã tồn tại hàng ngàn năm của giai cấp lao động, những giai cấp bị bóc lột. Tuy nhiên việc cải tiến từ luật hôn nhân gia đình năm 1918 cho đến luật hôn nhân gia đình năm 1926 là nền tảng pháp lý bảo vệ trực tiếp cho gia đình truyền thống được xây dựng dựa trên hôn nhân tự nguyên và hợp pháp của các bên tham gia, nó phá vỡ hoàn toàn hôn nhân ép buộc, hôn nhân mang tính giai cấp của thời kỳ Nga Hoàng trước đó như chúng tôi đã phân tích ở trên. Như vậy về mặt Nhà nước, chính quyền Xô Viết đã một lần nữa đi trước các nước tư sản thời bấy giờ khi trả gia đình truyền thống về đúng bản chất vốn có của nó là gia đình của sự tự nguyện giữa các bên tham gia hôn nhân như Mác và Ăngghen đã từng nói trong tác phẩm: Nguồn gốc Gia Đình, chế độ tư hữu và Nhà nước.


c) Luật hôn nhân gia đình năm 1936 và 1944:

   Từ cuối thập niên 1920, Liên Xô bước vào giai đoạn công nghiệp hoá và tập thể hoá mạnh mẽ theo một mô hình chỉ đạo tập trung thay cho chính sách NEP. Tình trạng phá thai và ly dị cao còn tồn tại dai dẳng ảnh hưởng xấu đến chính sách dân số và việc duy trì nguồn nhân lực cần thiết cho các chương trình kinh tế khổng lồ. Tình trạng trẻ em không nhà, lang thang cơ nhỡ còn tồn tại chưa giải quyết triệt để. Tình hình mới đặt ra yêu cầu phải chỉnh sửa bộ khung pháp lý để giải quyết các thách thức này, trong đó trọng tâm là khuyến khích sinh đẻ, hỗ trợ bà mẹ và trẻ em, củng cố tính bền vững của gia đình và trách nhiệm của vợ, chồng và cha mẹ đối với gia đình, thể hiện trong luật hôn nhân gia đình năm 1936.

   Luật 1936 bắt đầu cấm hoàn toàn việc nạo phá thai trừ trường hợp vì lý do sức khoẻ và y tế. Các ưu đãi cho phụ nữ mang thai được đặt ra, bao gồm chế độ nghỉ thai sản dài hạn, chu cấp tiền bạc cho bà mẹ mới sinh con, phụ cấp cho gia đình đông con. Việc ly hôn được siết chặt, đòi hỏi vợ chồng phải cùng trình diện ở cơ quan chức năng, và “tiền án tiền sự li dị” được ghi vào hộ chiếu của đối tượng. Lệ phí ly hôn tăng dần theo số lần ly hôn của một người, những ai ly hôn quá nhiều phải đóng lệ phí càng nặng. Luật cũng siết chặt quy định về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, người cấp dưỡng phải chu cấp 1/3 đến 60% lương tuỳ số con chung. Những ai không chu cấp có thể bị phạt tù 2 năm. Luật cũng yêu cầu cha mẹ có trách nhiệm với con cái, đưa ra án phạt tiền cho cha mẹ để con cái hư hỏng quậy phá.

   Luật 1944 tiếp tục xu hướng củng cố gia đình vì lý do dân số bị thương tổn nặng nề do chiến tranh. Một mặt, luật khôi phục lại việc không thừa nhận con ngoài giá thú và không thừa nhận quan hệ hôn nhân nếu không đăng ký kết hôn, cấm bà mẹ không hôn thú đệ đơn đòi xác định cha ruột và cấm đàn ông tự nguyện nhận con ngoài giá thú. Mặt khác, luật tăng chế độ cấp dưỡng và khen thưởng cho bà mẹ đông con có hôn thú lẫn không hôn thú. Gia đình và bạn bè được khuyến khích đến chứng kiến đăng ký kết hôn, dịch vụ đám cưới trang trọng được tổ chức tại các dinh thự cũ của quý tộc. Việc ly dị phải trải qua toà án hoà giải và toà án ly dị với thủ tục lâu dài và lệ phí rất cao để hạn chế li dị.

   Có thể thấy quá trình phát triển luật hôn nhân và gia đình từ năm 1918 đến năm 1944 đều thể hiện rất rõ xu hướng bình đẳng và bảo vệ phụ nữ, trẻ em là những đối tượng bị tổn thương nhiều nhất trong xã hội tư bản. Những thành quả phát triển của Luật hôn nhân và gia đình đã đạt được trong giai đoạn này bao gồm:

- Tạo sự bình đẳng cho phụ nữ và nam giới trong vấn đề kết hôn cũng như li hôn. Cả phụ nữ và nam giới đều phải chịu trách nhiệm với những đứa con chung của hai người thay vì dồn gánh nặng lên người phụ nữ như thời kỳ trước cách mạng tháng 10.

- Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các công việc xã hội và hoạt động lao động sản xuất, giải phóng hoàn toàn phụ nữ khỏi công việc nội trợ và gia đình, thay vào đó cả phụ nữ và nam giới đều phải có trách nhiệm trước công việc nội trợ và gia đình.

- Hạn chế nạn ly hôn 1 chiều và hạn chế nạn ly hôn do việc kết hợp tự do giữa nam và nữ trong môi trường công nghiệp, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được thừa nhận kết hôn.

- Bảo vệ trẻ em đến mức tối đa, trẻ em không có cha mẹ được quyền nhận nuôi và cũng có vai trò tương đương với con đẻ trong gia đình. Hạn chế hình thức nhận nuôi trẻ em để trở thành nô dịch không công lao động trẻ em.

- Hạn chế tình trạng phá thai chui, phái thai tràn lan do việc con ngoài giá thú quá nhiều, chỉ cho phép phá thai vì mục đích nhân đạo.

   Chúng ta có thể thấy rõ: các vấn đề về quyền phụ nữ và tổ chức gia đình là các vấn đề mang tính lịch sử, có căn nguyên kinh tế xã hội rõ ràng chứ không phải vấn đề thuần túy đạo đức hay luật lệ. Các nhà tư tưởng Mácxít đã nhìn ra điều này và đã có nhiều nỗ lực giải quyết vấn đề gia đình và bình đẳng giới từ căn nguyên kinh tế xã hội của chúng, trong tiến trình đó thì luật pháp chỉ là công cụ hỗ trợ và thúc đẩy, chứ nó không quy định một thứ đạo đức vĩnh hằng về gia đình và phụ nữ giống như quan điểm mang tính phong kiến - gia trưởng phản động, với mục đích duy trì trật tự bóc lột, mà không ít kẻ vẫn đang rêu rao trên mạng.

   Dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười, nhân dân Nga và Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại trong việc mang lại quyền bình đẳng thật sự cho người phụ nữ cho xã hội. Tỉ lệ công nhân nữ tăng rất nhanh từ 4 triệu năm 1928 đến 13 triệu năm 1930. Công nhân nữ chủ yếu làm trong ngành công nghiệp nhẹ nhưng cũng đã xuất hiện nữ công nhân trong các ngành như xây dựng vốn chủ yếu là của đàn ông. Đồng thời, nhiều phụ nữ cũng được gửi phụ nữ lên thành phố để học nâng cao, năm 1929 nhà nước để dành 20% quota cao đẳng đại học trở lên cho phụ nữ. Năm 1940 có 40% sinh viên cơ khí là phụ nữ. Bằng cấp cao tạo điều kiện cho nữ giới thăng tiến trong xã hội.

   Tuy nhiên, trong vấn đề này ở Liên Xô vẫn còn tồn tại một số thách thức và khó khăn, và đó là hạn chế chung của thời đại. Ví dụ như trong thời kỳ công nghiệp hoá và chiến tranh, nhiều lao động nam bỏ lên phố kiếm việc làm hoặc nhập ngũ tham gia cuộc chiến tranh chống phát xít. Vì vậy nhiều công việc nặng nhọc và điều kiện sinh hoạt thấp ở nông thôn dồn lên phụ nữ, đặc biệt trong trường hợp thiếu máy móc và súc vật kéo. Phụ nữ vẫn còn bị "gắn" vào nông nghiệp và nông thôn. Hầu hết phụ nữ làm các công việc lao động phổ thông, lương thấp, và nhiều người thất nghiệp sau chiến tranh khi đàn ông từ mặt trận quay về và thay thế họ. Đồng thời, tỉ lệ phụ nữ tham gia công tác Đảng và Nhà nước các cấp ở Liên Xô vẫn còn chưa cao.


Nguồn: Đồng Minh Những Người Cộng sản

https://www.facebook.com/dongminhnhungnguoicongsan/posts/pfbid02c9J9smMFnaSNZVeUvcy4RE4Le91cMFEmZUt91yesDWjSFKvf21PmsUaMhPrAnmjGl

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin

Sự thật về kinh tế tập thể và khoán sản phẩm ở Trung Quốc

Lenin: Phương pháp Tay-lo là phương pháp dùng máy móc nô dịch con người