Quan niệm tư sản về bóc lột
Quan niệm tư sản về bóc lột
Do những giới hạn về lịch sử, bị chế ước bởi những lợi ích về kinh tế và lập trường giai cấp khác nhau nên mỗi giai cấp có quan niệm và phương pháp tiếp cận trong cách nhìn nhận và ứng xử với các quan hệ bóc lột cũng khác nhau.
Hiện tượng bóc lột trong xã hội tư bản được các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và các chủ tư bản nhìn nhận theo cách riêng của họ. Chủ nghĩa tư bản không coi việc tư bản tước đoạt giá trị thặng dư do người lao động sáng tạo ra là bóc lột lao động làm thuê; không coi quan hệ giữa chủ tư bản và người lao động nảy sinh từ hiện tượng bóc lột là quan hệ tư bản và lao động, quan hệ chủ và thợ quan hệ người bóc lột người. Cơ sở của cách nhìn nhận đó được bắt nguồn từ việc xem xét một cách phiến diện những biểu hiện của quá trình sản xuất tư bản thông qua cách thức tiến hành một quá trình sản xuất. Để tiến hành sản xuất, chủ tư bản bỏ tiền mua tư liệu sản xuất, thuê mướn lao động và tiến hành tổ chức sản xuất, kiểm soát quá trình đó, đồng thời định đoạt việc phân phối đối với số sản phẩm làm ra. Các sản phẩm đó được bán đi, trang trải các khoản chi phí sản xuất bao gồm: một là, những chi phí về mua sắm nguyên vật liệu, khấu hao tài sản cố định và tài sản lưu động như nhà xưởng, máy móc... và các chi phí phụ khác, gọi chung là chi phí về tư liệu sản xuất; hai là, chi phí về tiền công cho người lao động (C.Mác gọi các khoản chi phí đó là chi phí sản xuất của tư bản). Phần còn lại, phổ biến là lớn hơn, dôi ra ngoài chi phí sản xuất được quan niệm là lợi nhuận và nó thuộc về chủ tư bản. Xét về bản chất, khoản dôi ra ngoài chi phí sản xuất của tư bản chính là giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất, và bị tư bản chiếm đoạt. Nhưng theo quan niệm của giới chủ và các nhà tư tưởng của họ, để tiến đến việc sản xuất ra một sản phẩm nào đó và bán ra thị trường, thu được lợi nhuận, nhà tư bản phải “bỏ ra rất nhiều công sức”, như: nghiên cứu và tìm kiếm thị trường, quản lý quá trình sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là phải mạo hiểm và chịu nhiều rủi ro... nên phần lợi nhuận thu được là kết quả của việc sử dụng tư liệu sản xuất và công sức của nhà tư bản, nhà tư bản không coi khoản lợi nhuận thu được là hành vi chiếm đoạt “thành quả lao động của người khác” và nó không phải là hành vi bóc lột lao động làm thuê. Đứng về phía lợi ích của các chủ tư bản, các học giả tư sản cho rằng, hiện tượng kinh tế đó cần được nhìn nhận theo những quan niệm về giá trị và về dân chủ của xã hội tư bản theo quan niệm “kẻ có của, người có công”.
Trong cuốn Kinh tế học, do hai nhà kinh tế học người Mỹ - giáo sư Paul A.Samuelson thuộc Đại học Massachusetts và giáo sư William D.Nordhaus thuộc Đại học tổng hợp Foundation biên soạn, khi viết về vấn đề chúng tôi đang bàn luận ở đây, các tác giả đã đề cập đến sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội Mỹ. Song, khi phân tích nguyên nhân của thực trạng bất bình đẳng, thì cũng giống như các nhà tư tưởng tiền bối trước đây, hai giáo sư này đã cho rằng nguồn gốc của tư bản là do “ăn nhịn để dành”, do được thừa kế tài sản, do sự thông minh vì được đào tạo bài bản tại các trường đại học, hoặc do sự nhạy bén về tài chính, sự dám liều lĩnh mạo hiểm trong kinh doanh, v.v. nhưng đã không dám nói đến cái nguyên nhân căn bản và sâu xa nhất đó là do bất bình đẳng về sở hữu các tư liệu sản xuất. Hai giáo sư này còn lớn tiếng phê phán, bác bỏ những luận đề của C.Mác và Ph.Ăngghen nêu trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản về những bất bình đẳng của xã hội tư sản là do chế độ bóc lột tư sản gây ra, là sự quy kết sai lầm; rằng lý luận của C.Mác về quy luật tích luỹ tư bản với tuyên bố: “Lời khẳng định rằng người giàu sẽ giàu thêm và người nghèo sẽ nghèo đi không thể đứng vững được qua nghiên cứu cẩn thận về lịch sử và thống kê” 1. Với lập luận tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội tư bản có nguồn gốc từ con người chứ không liên quan đến chế độ sở hữu: “Lý trí thông thường làm cho ta đoán trước được một phần sự phân tích và gợi ý rằng một nhân tố giúp giải thích những sự khác nhau về thu nhập phải là những sự khác nhau về con người”, và “nên tìm nguồn gốc quan trọng của sự khác nhau về thu nhập trong những tài năng đặc biệt, sự mạo hiểm, những loé sáng thiên tài, lao động cần cù” 2.
Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn đề cao vai trò và những phẩm chất riêng của con người trong quá trình sáng tạo ra lịch sử và những điều kiện riêng mà trong đó con người sống và làm việc. Song, tất cả những phẩm chất riêng ấy, tất cả những điều kiện riêng ấy, “những tài năng đặc biệt, sự mạo hiểm, những loé sáng thiên tài, lao động cần cù” cũng chỉ là một trong những nhân tố, chứ hoàn toàn không phải là tất cả để làm cho số của cải đang có trong tay của chủ tư bản cứ tự nhiên lớn lên hàng ngày với những tỷ lệ 100%, 200%, thậm chí 300%. Thực tiễn cho thấy nếu như thiếu những điều kiện cơ bản khác thì sản xuất tư bản sẽ không thể diễn ra. Những điều kiện cơ bản khác đó chính là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và lao động sống của người lao động trong chế độ lao động làm thuê tư bản chủ nghĩa... Chủ nghĩa Mác-Lênin không hề phủ nhận các yếu tố thông minh, tinh thần dám mạo hiểm chấp nhận rủi ro của các chủ tư bản, nhưng quyết không thể coi đó là nhân tố quyết định. Thực tiễn cho thấy, thực chất của luận đề về cái gọi là “kẻ có của, người có công” và “nguồn gốc quan trọng của sự khác nhau về thu nhập trong những tài năng đặc biệt, sự mạo hiểm, những loé sáng thiên tài, lao động cần cù” chỉ lộ ra khi giai cấp vô sản đụng đến chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
Khi các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nêu chủ trương xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất – cái cơ sở mà từ đó nạn bần cùng hoá giai cấp vô sản được sản sinh ra và cái chế độ “đầy máu và nước mắt” có thể tồn tại, thì giai cấp tư sản đã phản ứng quyết liệt. Vì sao vậy? Lẽ giản đơn là, nếu xoá bỏ “chế độ sở hữu cổ truyền” – cái chế độ sở hữu đã làm cho quá trình tích luỹ tư bản chủ nghĩa diễn ra theo xu hướng tích lũy sự giàu có về phía giai cấp tư sản và tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp vô sản, thì chính các nhà tư sản đã lập tức phản ứng lên tiếng bác bỏ. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ tính chất bịp bợm này rằng: “Các ông hoảng lên, vì chúng tôi muốn xoá bỏ chế độ tư hữu... các ông trách chúng tôi là muốn xoá bỏ một hình thức sở hữu chỉ có thể tồn tại với điều kiện tất yếu là tuyệt đại đa số bị tước mất mọi sở hữu.
Nói tóm lại, các ông buộc tội chúng tôi là muốn xoá bỏ sở hữu riêng của các ông. Quả thật, đó chính là điều chúng tôi muốn” 3.
Thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản cho thấy, mục đích của nó đều là nhằm giải quyết các bất bình đẳng giai cấp về lợi ích kinh tế bắt nguồn từ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa gây ra. Khi đã đụng đến vấn đề lợi ích và muốn giải quyết nó theo tinh thần bình đẳng giai cấp, tất yếu phải giải quyết vấn đề sở hữu – xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân của giai cấp tư sản, chuyển thành sở hữu xã hội. Chính điều này đã đụng đến vấn đề cốt tử mà giai cấp tư sản không bao giờ muốn. Đây là cái tất yếu của sự phản ứng tư sản, một sự phản ứng quyết liệt nhất, song nó đã bị cố tình che giấu.
Sự bóc lột của chủ tư bản đối với lao động làm thuê diễn ra trong quá trình sản xuất nhưng được giai cấp các nhà tư bản “không tự giác” chia nhau ra để hiện thực hóa trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. C.Mác đã chỉ rõ điều này trong bộ Tư bản. Tuy nhiên, không chỉ có việc tư bản bóc lột lao động làm thuê là người công nhân, mà tư bản bóc lột cả lao động làm thuê là người vô sản nông dân, không chỉ là những người vô sản ở trong nước mà còn đối với người vô sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
V.I. Lênin đã chỉ rõ tình cảnh bần cùng hóa của người vô sản Nga là nông dân bị chủ tư bản bóc lột nặng nề như thế nào từ sau cuộc cải cách nông nô diễn ra ở nước Nga năm 1861 trong tác phẩm Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga được công bố năm 1899, là thời kỳ chủ nghĩa tư bản xâm nhập ồ ạt và phát triển hết sức nhanh chóng ở nước Nga phong kiến sau khi Nga hoàng – Alếchxanđrơ đệ nhị tiến hành cuộc cải cách nông nô xóa bỏ chế độ quân chủ ở nước Nga.
Còn trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi nói đến sự bóc lột nặng nề và tàn nhẫn của giai cấp tư sản Pháp ở “chính quốc” đối với người lao động và giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, thì chính sách bóc lột thuộc địa của chủ nghĩa tư bản Pháp đối với dân xứ Đông Dương là một hiện tượng điển hình. Trong các bài viết, phát biểu... đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tình trạng bóc lột thuộc địa nặng nề của tư bản Pháp đối với lao động thuộc Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng. Người ví bóc lột thuộc địa là cái vòi thứ hai của “con đỉa hai vòi” của chủ nghĩa đế quốc. Và vì thế, bằng những biện pháp có thể, Người đã tranh thủ mọi cơ hội để tố cáo về sự bóc lột này và làm hết sức mình để xóa bỏ sự bóc lột tàn bạo đó.
Như vậy, có thể quan niệm bóc lột là gì, hình thái biểu hiện và nhận diện thế nào cho đúng bản chất của nó, tuy phức tạp nhưng không có nghĩa là không thể làm được, vấn đề là ở chỗ cần có cách tiếp cận đúng. Nhưng trong thực tiễn vẫn có những cách nhìn nhận khác.
Gần đây, xuất hiện một số quan niệm rất đáng chú ý, trong đó quan điểm nhìn nhận các quan hệ bóc lột không tiếp cận dưới góc độ quan hệ giữa con người với con người mà coi đó là một quan hệ khác – quan hệ giữa con người với tự nhiên, nảy sinh trong quá trình con người khai thác giới tự nhiên. Bóc lột được coi là một dạng con người khai thác sức lao động của người khác cũng giống như quá trình con người chinh phục, khai thác tự nhiên để mưu cầu cuộc sống. Quá trình đó cũng có thể hiểu là sự bóc lột nếu nó vượt quá những giới hạn cho phép. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ góc độ ngôn ngữ, theo đó cho rằng trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới (tiếng Anh chẳng hạn) thuật ngữ bóc lột và khai thác đều cùng được biểu đạt bằng một từ chung đó là exploit/exploitation. Và quan niệm rằng không kể là quan hệ với tự nhiên hay quan hệ giữa con người với con người, khi con người hoặc tự nhiên bị “khai thác” quá mức thì đó là “bóc lột”. Đương nhiên khi chưa bị khai thác quá mức thì hiện tượng bóc lột chưa hoặc không diễn ra. Theo hướng đó, “bóc lột” được coi là có cùng bản chất với “khai thác”, là khái niệm tương đồng, chỉ khác nhau ở cấp độ. Bóc lột chỉ là một cấp độ của khai thác. Nếu thiên nhiên bị khai thác đến mức không thể tái tạo được thì đó là sự bóc lột thiên nhiên. Đối với con người cũng nên được hiểu như vậy.
Thoạt nhìn, loại ý kiến này có những khía cạnh hợp lý nhất định, vì nó làm cho con người quan niệm, xem xét, tiếp nhận về hiện tượng bóc lột dường như nhẹ nhàng, dễ dàng hơn, không nặng nề như quan niệm lâu nay; và dường như bóc lột cũng là hiện tượng mang tính tự nhiên, bớt đi những định kiến, mặc cảm coi đó là hiện tượng xấu cần loại bỏ. Thậm chí nó còn được coi là sự “giải phóng” tư duy của con người khỏi những ám ảnh cũ. Có một điều hiển nhiên có thể thấy ngay rằng trong quan niệm đó chứa đựng những mâu thuẫn. Nếu coi bóc lột – quan hệ giữa con người với con người có cùng bản chất với sự khai thác tự nhiên sẽ vấp phải những vấn đề khác lớn hơn nhiều không thể giải quyết được về mặt lý luận. Nếu quan niệm hiện tượng người bóc lột người có cùng bản chất với hiện tượng con người khai thác tự nhiên, thì cũng có thể hiểu bóc lột là một thuộc tính mang tính tự nhiên và sẽ tồn tại vĩnh viễn. Và như vậy, việc chấm dứt hiện tượng người bóc lột người có thể thực hiện được không? Nếu xác định là có, thì chính tác giả đã tự mâu thuẫn với chính mình, còn nếu xác định là không thì quan điểm của tác giả có trái với luận đề C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là “xoá bỏ chế độ tư hữu”, “là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản”? Vì theo C.Mác và Ph. Ăngghen “chế độ tư hữu tư sản hiện thời, lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia” 4.
Như trên chúng tôi đã khẳng định, nói đến bóc lột là nói đến quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ giữa con người với con người trong phân định về quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Những tư liệu sản xuất thuộc về ai? Thuộc người này, giai cấp này thì không thuộc người kia, giai cấp kia và ngược lại. Một cá nhân hoặc một giai cấp nhất định nhờ nắm được quyền sở hữu các tư liệu sản xuất mà có thể bóc lột người khác, tập đoàn xã hội khác thông qua lao động của người khác, của tập đoàn xã hội khác.
Lao động (sản xuất) là quá trình con người thông qua công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải cho phù hợp hay phục vụ mục đích, yêu cầu của cuộc sống. Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, sức lao động của người lao động được kết hợp với tư liệu sản xuất của chủ tư bản sẽ tạo ra một giá trị mới. Giá trị mới đó lớn hơn về lượng so với chính giá trị sức lao động, trong khi các chi phí vật chất đã được chính lao động sống của người công nhân trong quá trình lao động bảo tồn và chuyển giá trị của nó vào sản phẩm mới. Phần dôi ra đó chính là giá trị thặng dư. Nền kinh tế có trình độ phát triển càng cao, năng suất lao động xã hội càng lớn, thì phần thặng dư càng lớn. Như vậy, sản phẩm hay giá trị thặng dư do người lao động sáng tạo ra, nếu kết quả đó thuộc về xã hội thì hoàn toàn không mảy may diễn ra một hành vi bóc lột nào cả. Khi một quá trình kinh tế diễn ra, kết luận cuối cùng rằng trong quá trình đó có diễn ra hành vi bóc lột hay không, phải xem xét ở tất cả các mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất. Các quan hệ về quyền sở hữu đối với các tư liệu sản xuất, quan hệ về quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình lao động đó như thế nào là nội dung cụ thể phản ánh sự tồn tại hay không tồn tại các quan hệ bóc lột. Trong ba mối quan hệ gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau đó, quan hệ về sở hữu là quan hệ cơ bản, quan hệ xuất phát, các quan hệ về quản lý và phân phối là quan hệ phái sinh. Song quan hệ về sở hữu dù giữ vị trí quan trọng như vậy, cùng với quan hệ quản lý chỉ mới biểu thị về khả năng, điều kiện để có thể xuất hiện một hành vi bóc lột của người này đối với người khác. Còn mối quan hệ thứ ba (biểu hiện ở khâu phân phối hoặc dưới dạng hiện vật, hoặc dưới dạng giá trị) mới cho biết trên thực tế đã thực sự xuất hiện một quan hệ bóc lột hay chưa. Trong tính thống nhất của các mối quan hệ đó, nguyên tắc phân phối đối với các sản phẩm bị quy định bởi quyền sở hữu các tư liệu sản xuất. Bằng quyền năng này, chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, định đoạt “số phận” các sản phẩm (hoặc giá trị) do quá trình lao động tạo ra. Trong khuôn khổ của chế độ tư hữu, chủ sở hữu thực hiện quyền năng định đoạt, chiếm đoạt phần giá trị thặng dư và quyền năng đó được pháp luật tư sản bảo hộ.
Điều đó cho thấy cái gọi là “ăn nhịn, để dành”, “do được thừa kế tài sản” như các học giả kinh tế của chủ nghĩa tư bản vẫn rêu rao chỉ là trò bịp bợm. Trong tác phẩm Tư bản, khi trình bày về tích luỹ tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ ra rằng chính người công nhân đã ứng trước sức lao động để tạo ra giá trị thặng dư cho chủ tư bản chứ không phải chủ tư bản đã ứng trước tư bản để trả công lao động cho người công nhân. Thực tiễn sản xuất tư bản chủ nghĩa từ khi nó ra đời đến nay đều chỉ ra rằng nhà tư bản trả công cho người lao động (dù theo thời gian hay theo sản phẩm) đều diễn ra sau một quá trình sản xuất nhất định. Nói cách khác, đặc điểm của việc mua bán sức lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là người công nhân thường chỉ được trả công sau khi đã lao động cho nhà tư bản. Dù theo thời gian giờ, ngày, tuần, tháng, hay theo sản phẩm thì đều là sau khi kết thúc quá trình sản xuất, người lao động mới nhận được khoản tiền công của mình. Điều đó chỉ rõ, chính nhà tư bản đã trích phần giá trị do công nhân tạo ra ngang bằng với mức tiền công đã thoả thuận để trả công cho người lao động. Trong trường hợp nhà tư bản thoát ly hoàn toàn với quá trình sản xuất (chủ tư bản thuê người lao động tiến hành toàn bộ từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông và thuê luôn cả quá trình quản lý) thì rõ ràng cho dù số của cải trước đó của chủ tư bản là do “ăn nhịn, để dành”, hoặc “do được thừa kế tài sản” mà có, thì sau một số chu kỳ sản xuất nhất định, anh ta cũng đã sử dụng hết số của cải đó cho tiêu dùng cá nhân, nguồn vốn tích luỹ để tái sản xuất cho chu kỳ tiếp theo sẽ lấy ở đâu, nếu anh ta không phải là người đã tước đoạt thành quả lao động do người công nhân sáng tạo ra dưới hình thức chiếm đoạt phần giá trị thặng dư? Như thế, nguồn gốc duy nhất của các nguồn của cải mà nhà tư bản dùng vào việc tái sản xuất cho các chu kỳ mới (tích luỹ tư bản), cũng như chi dùng cho cuộc sống xa hoa của mình không gì khác ngoài phần giá trị thặng dư đã tước đoạt của người lao động. Quá trình tích luỹ của tư bản diễn ra không ngừng, nên số tư bản được tích luỹ lại ngày càng tăng lên và chiếm tỷ lệ ngày càng lớn so với tư bản ban đầu trong tổng số tư bản. C.Mác đã ví tư bản ban đầu với tư bản tích luỹ như giọt nước trong dòng sông ngày càng lớn của tích luỹ tư bản chủ nghĩa.
Còn giả định rằng lao động có cùng bản chất với khai thác, thì cũng phải xem chủ sở hữu có lao động không, có tự “khai thác” sức lao động của mình không, mà lại được quyền chiếm hữu kết quả lao động của người khác. Ngay cả khi chủ sở hữu trực tiếp bỏ sức lao động của mình ra, trực tiếp cùng với những lao động làm thuê tham gia vào các khâu, các công đoạn cụ thể của quá trình sản xuất, kinh doanh, thì việc chiếm đoạt toàn bộ phần giá trị dôi ra ngoài chi phí sản xuất, cũng vẫn không thể coi là một sự tự trả công hợp lý được mà nó vẫn là hành vi tước đoạt lao động không công của người lao động. Điều này đã được các nhà kinh tế mác-xít vạch ra từ lâu. Nếu trong quá trình lao động sản xuất đó, người chủ sở hữu các tư liệu sản xuất cũng tham gia vào quá trình lao động dưới hình thức lao động quản lý, hoặc lao động trực tiếp, thì phần chi phí về tiền công cho các loại lao động đó phải được hạch toán vào phần chi phí tư bản khả biến với mức chi phí ngang bằng với kết quả lao động anh ta được hưởng, một mức tương ứng với sự đóng góp của anh ta. Xét về bản chất sự trả công đó cũng giống như khoản chi phí tư bản khả biến để thuê lao động vậy. Tất nhiên cũng như người lao động, anh ta cũng sáng tạo ra một phần của bộ phận giá trị thặng dư. Và dù trong khuôn khổ của chế độ sở hữu tư nhân, anh ta có quyền được hưởng một phần từ chính sự sáng tạo đó, song cũng chỉ được một phần, tuyệt nhiên, không thể chiếm đoạt toàn bộ phần giá trị thặng dư đó. Điều đó không thể nguỵ biện cho hành vi không bóc lột của nhà tư bản. Dĩ nhiên không kể là chủ sở hữu hay người lao động, mọi lao động đã qua đào tạo, sự thông minh... phải được trả công cao hơn mức bình thường. Điều này cũng không có gì mới. C.Mác đã từng đề cập đến khi quy lao động phức tạp, lao động qua đào tạo là bội số của lao động giản đơn.
_______
Chú thích:
1. Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus: Kinh tế học, bản dịch tiếng Việt của Viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1989, t.2, tr. 242- 243.
2. Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus: Sđd, t.2, tr. 252- 253.
3. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr. 618.
4. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.615.
_______
Nguồn: "Bóc lột - Cách nhìn và ứng xử", Lại Ngọc Hải chủ biên, NXB Sự Thật, 2010
.jpeg)
Nhận xét
Đăng nhận xét