Vấn đề cải tạo và sử dụng các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ - Vũ Hữu Ngoạn

Vấn đề cải tạo và sử dụng các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ - Vũ Hữu Ngoạn


   Việc sử dụng các thành phần kinh tế là một trong những vấn đề quan trọng, đồng thời khó khăn bậc nhất, về lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan niệm và hành động trong lĩnh vực này dễ xảy ra những khuynh hướng "tả" hoặc hữu. Nó càng quan trọng và khó khăn trong điều kiện quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Ở Việt Nam, hai miền trước đây có những khác biệt nhau cơ bản về kinh tế – xã hội, sau khi thống nhất nước nhà, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên quy mô cả nước, thì sự tồn tại và sự tác động qua lại giữa các thành phần kinh tế lại trở nên đặc biệt độc đáo. Một thái độ vừa cách mạng vừa khoa học để xử lý các thành phần kinh tế trong hoàn cảnh độc đáo đó, một mặt, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững tư tưởng lêninnít về nền kinh tế thời kỳ quá độ, mặt khác, đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo nó vào điều kiện đất nước ta hiện nay.

   V.I. Lênin thiên tài, người đầu tiên đã phát hiện nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Người nói: "Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có" (1),và "về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy. Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hắn, và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu" (2)

   Sự chỉ dẫn vô cùng quý báu trên đây của V.I. Lênin chẳng những giúp chúng ta nhận thức đúng thực trạng quá độ của nền kinh tế mà còn giúp chúng ta có phương hướng đúng đắn trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân. Thật rõ ràng rằng, sự tồn tại xen kẽ giữa các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, nhất là trong chặng đầu, là không thể tránh khỏi. Nhưng sự đấu tranh giữa chúng theo chiều hướng phát triển dần tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quốc dân cũng là tất nhiên. Nếu nóng vội, lấy tình cảm đạo đức thay thế cho sự vận động của kinh tế, sẽ không đúng. Ngược lại, ngồi im buông lỏng, thả nổi tình hình, cũng rất tai hại.

   Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, nền kinh tế quốc dân vận động trong cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, làm cho con đường xã hội chủ nghĩa dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Không như vậy thì mất hết ý nghĩa của một thời kỳ lịch sử đặc biệt – thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, mất hết ý nghĩa thực tế của thời kỳ chuyển biến cách mạng sâu sắc này.

   Hiện nay sự tồn tại ba thành phần kinh tế ở miền bắc (quốc doanh, tập thể, sản xuất hàng hóa nhỏ) và năm thành phần kinh tế ở miền nam (quốc doanh, tập thể, chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức công tư hợp doanh, chủ nghĩa tư bản tư nhân, sản xuất hàng hóa nhỏ) đều mang tính khách quan. Song, tính khách quan ấy không có nghĩa là tự nó phát triển, không có nghĩa là đồng nhất với tính tự phát phát triển của nó. Mỗi một thành phần kinh tế dù là xã hội chủ nghĩa hay không xã hội chủ nghĩa cũng phải do kết quả hoạt động cải tạo và xây dựng của chúng ta mà có. Người nông dân cá thể, người thợ thủ công cá thể, người tiểu thương, không thể y nguyên như trước. Tuy họ chia sản xuất và lưu thông theo kế hoạch nhà nước nhưng đã phải sản xuất và lưu thông theo quỹ đạo của kế hoạch nhà nước, theo pháp luật của nhà nước chuyên chính vô sản. Không như thế thì rất có thể nhà máy quốc doanh lại chỉ sống bằng cách làm gia công cho tư nhân, ngược với lô–gích của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tương tự như vậy, chủ nghĩa tư bản tư nhân chỉ tồn tại trong giới hạn kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ dưới nhiều hình thức của nhà nước chuyên chính vô sản. Còn đối với thành phần quốc doanh và tập thể, thì sự ra đời cùng sự tồn tại của nó càng gắn liền mật thiết với công cuộc cải tạo và xây dựng toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính đặt trong mối liên hệ hữu cơ ấy mà thành phần quốc doanh và tập thể, với tất cả các hình thức kinh tế chứa đựng trong mình nó, cũng chưa thể có dạng thuần túy như khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng xong, và càng chưa thể có trình độ như xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển.

   Việc xuất hiện một số phần tử "tư sản mới" ở miền bắc (chủ yếu trong lĩnh vực thương nghiệp) là một hiện tượng đặc biệt, do những nguyên nhân phức tạp. Một mặt, đó là do sự tác động tiêu cực của thị trường tự do vô cùng rộng lớn ở miền nam ra miền bắc trong một cơ thể nước nhà vừa thống nhất. Mặt khác, điều quan trọng hơn, là do chúng ta lơi lỏng tổ chức quản lý.

   Nếu như mỗi thành phần kinh tế do kết quả của cải tạo và xây dựng mà có, thì ngược lại phải sử dụng tốt các thành phần kinh tế để cải tạo và xây dựng nền kinh tế quốc dân, nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và tiến tới xác lập nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

   Nước ta đã trải qua cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, rồi bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội, cho nên thành phần kinh tế quốc doanh sớm ra đời, hơn nữa nó ra đời chủ yếu bằng con đường xây dựng mới chứ không phải chủ yếu bằng con đường "tước đoạt lại" của giai cấp tư sản. Tính đến hết năm 1980, thành phần kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng khoảng 33% giá trị tổng sản phẩm xã hội. Tuy vậy, nhìn chung nó đã giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, vì nó đã chiếm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân với sự ưu việt của chế độ sở hữu toàn dân, và được nhà nước chuyên chính vô sản trực tiếp quản lý. Trên thực tế, ở từng nơi và từng lúc, thành phần kinh tế quốc doanh không giữ được đầy đủ vai trò chủ đạo của mình, thậm chí nhất thời bị lấn át, là do sự non kém về tổ chức quản lý của chúng ta gây ra.

   Tính đến hết năm 1980, thành phần kinh tế tập thể chiếm tỷ trọng khoảng 25% giá trị tổng sản phẩm xã hội. Thành phần kinh tế tập thể tồn tại trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp. Những lĩnh vực này đang cần thiết và đang tác động đến đời sống hàng ngày của nhân dân. Đương nhiên, chúng không chỉ cần thiết trước mắt, song trong chặng đường trước mắt khi mà chúng ta đang phải chiến đấu cho cái mốc bảo đảm sản phẩm tất yếu của toàn xã hội thì chúng trở thành nóng bỏng. Vì vậy, việc củng cố và tăng cường thành phần kinh tế tập thể nhằm mở rộng khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa trong những lĩnh vực đụng chạm trực tiếp nhất đến đời sống tối thiểu của nhân dân lao động là một yêu cầu khách quan.

   Ở nước ta, thành phần kinh tế tập thể ra đời theo con đường phổ biến là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất hàng hóa nhỏ (bao gồm người nông dân cá thể, người thợ thủ công cá thể, người lao động dịch vụ cá thể, và người tiểu thương). Trong hoàn cảnh nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, thì lúc đầu những người sản xuất hàng hóa nhỏ, trước hết là nông dân, chiếm bộ phận lớn nhất trong dân cư. Không phải chỉ ở miền bắc trước đây, mà tình hình miền nam hiện nay cũng chứng minh một cách rõ rệt điều đó. Tính đến cuối năm 1980, tại miền nam, nông dân còn chiếm tới 80,9% dân số. Do đó, việc cải tạo những người sản xuất hàng hóa nhỏ, đặc biệt đối với nông dân, trở thành bộ phận lớn nhất trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Giai cấp công nhân phải tổ chức, hướng dẫn họ đi lên chủ nghĩa xã hội bằng chế độ hợp tác xã – hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã thủ công nghiệp, hợp tác xã thương nghiệp, hợp tác xã dịch vụ, hợp tác xã tín dụng. Hợp tác hóa nông nghiệp – một phát minh lớn của Ph. Ăngghen và V.I. Lênin, với việc thực hiện một cách nhất quán các nguyên tắc tự nguyện, đi dần từng bước từ thấp lên cao, và có sự giúp đỡ rất mạnh về mặt vật chất của nhà nước chuyên chính vô sản hết sức quan trọng trong quá trình chuyển biến nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế miền hắc trước đây cũng như miền nam ngày nay đều chứng tỏ chỉ có trên cơ sở hợp tác hóa nông nghiệp chúng ta mới có thể đẩy mạnh thủy lợi hóa, đẩy mạnh phân công lại lao động xã hội, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, khai hoang, đẩy mạnh cơ giới hóa, nhằm phát triển mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp, đồng thời mới có thể xây dựng nông thôn mới. Vô luận hoàn cảnh nào, một khi cách mạng chuyển giai đoạn, lấy cách mạng xã hội chủ nghĩa làm nhiệm vụ hàng đầu, thì trung nông vẫn nổi lên là nhân vật trung tâm ở nông thôn. Ở Nam Bộ, tầng lớp trung nông chiếm số đông trong dân cư nông thôn, có nhiều ruộng đất, lại có cả máy móc nữa. Khi cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được đặt ra, thì sự lựa chọn đã diễn ra một cách khó khăn nhất đối với họ. Tình hình đó đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách, những biện pháp thật khôn ngoan, kể từ việc công hữu hóa tư liệu sản xuất, tổ chức sản xuất có hiệu quả thực tế, đến việc ăn chia phân phối để thúc đẩy sự tự nguyện gia nhập hợp tác xã của trung nông. Dù sao, loại hình hợp xã bậc thấp, được duy trì một thời gian nhất định, là không tránh khỏi. Ở đó không chỉ ăn chia, phân phối theo lao động mà còn cả phương thức phân phối theo hoa lợi ruộng đất. Vì sao 13.000 tập đoàn sản xuất nông nghiệp được thành lập ở Nam Bộ năm 1978 lại sụt đi nhanh chóng xuống con số 3000? Vì sao gần đây lại đột ngột tăng lên con số 6000, và trên nhiều lá đơn người nông dân đã tô đậm dòng chữ: "Tự nguyên vào tập đoàn với điều kiện khoán sản phẩm đến người lao động"? Sức mạnh của những hình thức kinh tế đúng đắn là như thế đấy! Chúng ta đã có thực tế đầy đủ để nhận thức sâu sắc lời dạy của V. I. Lênin: "Không có một sắc lệnh nào có thể chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn được, và về mặt này chúng ta phải thuyết phục dần dần, tùy theo tiến trình các sự biến, cho người ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội là không thể tránh khỏi" (3) và rằng: "chúng ta biết rất rõ rằng trong những nước kinh tế tiểu nông, nếu không trải qua cả một loạt giai đoạn sơ bộ và tuần tự thì không thể tiến lên chủ nghĩa xã hội được" (4)

   Thực tiễn bao giờ cũng vẫn là tiêu chuẩn của chân lý! Lịch sử bao giờ cũng vẫn là một người thầy dạy vĩ đại! Thời gian đã giúp chúng ta có những nhận thức thật mới mẻ: sở hữu về tư liệu sản xuất là một yếu tố độc lập và quyết định cả hệ thống quan hệ sản xuất, song nó còn được thể hiện ra, được thâm nhập vào khắp các khâu của quá trình tái sản xuất. Nói cách khác, quần chúng phải cảm giác được, nắm bắt được chế độ sở hữu ấy một cách thực tế ở cách tổ chức sản xuất, cách phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Khi chúng ta mở ra cuộc vận động nông dân chuyển từ sở hữu cá thể về những tư liệu sản xuất chủ yếu lên sở hữu tập thể, thì đó mới chỉ là một công việc bắt đầu, sơ khai của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa. Đi liền với cuộc vận động đó và tiếp ngay sau cuộc vận động đó, chúng ta còn phải thực hiện tốt vô số những hình thức kinh tế trong hợp tác xã. Điều này chẳng những có ý nghĩa nóng hổi đối với miền nam, mà còn hết sức nóng hổi đối với việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền bắc.

   Thái độ, chính sách đối với kinh tế gia đình sẽ có ảnh hưởng lớn tới nhịp điệu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông dân và nhịp điệu phát triển nền kinh tế quốc dân. Kinh tế gia đình còn tồn tại lâu dài một khi còn tồn tại hình thức sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa và khi của cải chưa phải ở mức tuôn ra dào dạt. Nó càng nổi bật lên trong thời kỳ quá độ từ sản xuất nhỏ tiến thẳng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nhất là trong hoàn cảnh lực lượng lao động quá dồi dào mà đối tượng lao động trực tiếp lại thiếu thốn nghiêm trọng như ở nước ta. Thực tế, kinh tế gia đình ở miền bắc còn đảm nhiệm 70% sản lượng thịt, phần lớn các thực phẩm khác, và 20% lương thực cho xã hội. Nhằm đề phòng lúc đầu năng suất và sản lượng của hợp tác xã chưa dễ dàng hơn làm ăn cá thể ngay lập tức, ở miền nam, có thể phải dành một tỷ lệ ruộng đất cho kinh tế gia đình một cách thỏa đáng để sản phẩm xã hội khỏi nhất thời tụt xuống, đặc biệt phải tính toán thận trọng đối với đất đai kinh doanh theo kiểu vườn.

   Tầng lớp tiểu thương ở nước ta rất đông. Trong thời gian gần đây, con số ấy lên tới khoảng 1 triệu 50 vạn. Tính trên địa bàn cả nước, hiện nay trên 40% tổng số hàng hóa được lưu chuyển theo thị trường tự do, tính riêng trên địa bàn miền nam thì tỷ trọng đó là 69%. Do cung và cầu hàng hóa rất căng thẳng, lại thêm những tiêu cực do sự yếu kém về tổ chức và quản lý kinh tế gây ra, cho nên sản xuất hàng hóa nhỏ nói chung và buôn bán nhỏ nói riêng, một mặt còn có tầm quan trọng, nhưng mặt khác cũng rất phức tạp. Thực tế đã minh họa một cách hết sức chính xác cho nhận xét của V. I. Lênin: "Sở dĩ thế lực tự phát tiểu tư sản mang cái tên là thế lực tự phát, vì chính nó là cái không định hình nhất, không cố định nhất, không tự giác nhất" (5). Nếu buông lỏng quản lý thì hằng ngày, hằng giờ nó gậm nhấm chủ nghĩa xã hội. Hiện nay nó đã móc đến 30% hàng tiêu dùng, 20% xăng dầu, 10% lương thực của nhà nước ra thị trường tự do. Việc cải tạo những người tiểu thương đang là một vấn đề thời sự nóng hổi. Lực lượng hàng hóa trong tay nhà nước còn rất mỏng, thương nghiệp quốc doanh chưa cần thiết và cũng chưa đủ khả năng thu hút những người tiểu thương vào màng lưới của mình. Phải chuyển dần họ sang sản xuất, song việc đó cũng phải có thời gian, bởi vì chính ngay những người đang tại ngũ sản xuất cũng còn thiếu việc làm thường xuyên!

   Tốt nhất chúng ta biết sử dụng họ một thời gian, đồng thời thực hiện mọi biện pháp kiểm kê, kiểm soát để biến cái "thị trường tự do" trở thành thị trường ngoài kế hoạch bổ sung cho thị trường có kế hoạch. Trong khi sử dụng đi đôi với đấu tranh đối với thế lực tự phát của tiểu thương, chúng ta không thể không thực hiện lời căn dặn của V.I. Lênin: "Hãy dùng con chủ bài của nó, dùng vũ khi của chính nó để đánh gục nó" (6).Con chủ bài nói ở đây là cách buôn bán, thứ vũ khí nói ở đây là quy luật giá trị.

   Trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền nam, Đảng ta chủ trương phải kết hợp chặt chẽ việc cải tạo người sản xuất hàng hóa nhỏ với việc cải tạo giai cấp tư sản. Ở miền nam trước đây, chủ nghĩa tư bản được phát triển trong điều kiện chủ nghĩa tư bản hiện đại thế giới. Những nhà tư bản có liên hệ, quen thuộc với nước ngoài, với nông dân sản xuất hàng hóa trong nước, sản xuất và kinh doanh nhiều về công nghiệp dân dụng, thuần thục về kinh doanh dịch vụ. Sau khi bị đánh đổ về chính trị, và đang bị đánh bại về kinh tế, họ vẫn còn vốn liếng, còn chi nhánh quốc tế, còn cơ sở xã hội rộng rãi trong những người sản xuất hàng hóa nhỏ, và còn để lại ấn tượng sâu sắc về kinh nghiệm quản lý trong dân cư lớn hơn số lượng nhân khẩu mà nó có trong dân cư như lời V.I. Lênin căn dặn. Vậy thì việc tiến hành cải tạo họ càng phải tỉnh táo và khôn ngoan. Trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất, chúng ta sẽ duy trì chủ nghĩa tư bản tư nhân một thời gian đối với những ngành, hàng không liên quan đến quốc kế dân sinh, nhưng đặt dưới kiểm soát chặt chẽ của nhà nước chuyên chính vô sản, còn đại bộ phận được cải tạo theo hình thức công tư hợp doanh – một hình thức cao của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Trong lĩnh vực kinh doanh thương nghiệp, chúng ta không duy trì chủ nghĩa tư bản tư nhân, cũng không áp dụng hình thức công tư hợp doanh, lĩnh vực này liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân. Chúng ta phải cắt bỏ mối liên hệ tư nhân của họ với nông thôn rộng lớn, để khỏi rối loạn thị trường, xói mòn quan hệ sản xuất mới đang được xây dựng. Tốt nhất, các cơ sở thương nghiệp quốc doanh có thể sử dụng họ với tư cách chuyên gia tư sản một thời gian. Họ sẽ được trả lương cao.  Giai cấp công nhân coi đây là khoản "học phí" cần thiết, chừng nào mà mình chưa có đầy đủ kinh nghiệm quản lý kinh tế. Hãy bắt những nhà tư bản phải cày trên mảnh đất không tái sinh ra nó nữa (7). Qua đây chúng ta nắm lại cơ chế mua bán của họ để rồi biết giữ lại cái gì, bỏ cái gì đi, thay thế cái gì. Chúng ta ra sức học tập nghệ thuật tổ chức nắm hàng của họ, tất nhiên nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

   Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải kết hợp chặt chẽ với xây dựng. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, thì cải tạo đi đôi với xây dựng là một tất yếu khách quan, nhằm phát sinh từ gốc đến ngọn cả hai mặt của phương thức sản xuất mới. Nói cách khác, chúng ta phải tiến hành xã hội hóa thực sự nền sản xuất xã hội, cũng tức là xác lập nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, cả về hai phương diện – phương diện quan hệ sản xuất, và phương diện vật chất – kỹ thuật. Ở đây đòi hỏi công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp phải gắn liền với công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi nào ở trình độ hợp tác xã bậc cao với sự bảo đảm vững chắc của nền tảng vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội thì mới được coi người nông dân đã thực sự trở thành người nông dân tập thể xã hội chủ nghĩa. Cải tạo đi đôi với xây dựng cũng đòi hỏi khi cải tạo các thành phần không xã hội chủ nghĩa phải gắn liền chặt chẽ với việc tổ chức lại nền sản xuất xã hội, nhằm sắp xếp lại lực lượng lao động, tư liệu sản xuất, các ngành nghề và xác định phương hướng sản xuất hợp lý nhất, đưa tất cả các thành phần kinh tế hoạt động thống nhất theo kế hoạch nhà nước hoặc theo quỹ đạo của kế hoạch nhà nước, khắc phục nhanh chóng tình trạng thấp kém của sản xuất và đời sống của nhân dân nước ta.

   Các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và các thành phần không xã hội chủ nghĩa đều tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ. Vì vậy, sự tác động qua lại giữa chúng cũng mang tính khách quan, và trước hết, đó là sự biểu hiện và tác động qua lại giữa những loại hình lợi ích kinh tế khác nhau, tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau. Một sự kết hợp đúng đắn các loại hình lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ là không tránh khỏi. V.I. Lênin không uổng công vô ích khi Người phải đấu tranh để đưa ra những hình thức kinh tế quá độ, trung gian – hình thức kinh tế vừa chứa đựng nhân tố xã hội chủ nghĩa vừa còn cả nhân tố không xã hội chủ nghĩa, tất nhiên sự dung hợp phải theo chiều hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính những hình thức kinh tế quá độ như thế càng làm cho thời kỳ quá độ có một nội dung kinh tế được xác định, càng làm cho thời kỳ quá độ được biểu hiện một mặt là sự nhảy vọt, mặt khác là một quá trình. Hình thức kinh tế quá độ chứa đựng một sự biến đổi cách mạng, song sự biến đổi cách mạng ấy diễn ra dần dần. Và, đó là một bước tiến vững chắc vừa tránh nóng vội lại vừa tránh bảo thủ hữu khuynh.

   Hình thức kinh tế nói ở đây được hiểu theo nghĩa đầy đủ, rộng rãi, bao gồm tất cả những hình thức chứa đựng mối quan hệ giữa người với người trong khắp các mắt khâu của quá trình tái sản xuất, từ hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, hình thức kế hoạch, hình thức trả công cho đến hình thức giả cả, thị trường, v.v... Nếu hình thức kinh tế quá độ được đưa ra đúng lúc, kịp thời, chính xác, thì sẽ lay động được hứng thú hoạt động cá nhân cao độ, đồng thời đem lại hiệu quả hơn cho xã hội. Cần khắc phục quan niệm về quan hệ sản xuất thuần túy trừu tượng, một quan hệ sản xuất chỉ tồn tại với mục đích tự nó chứ không phải với hiệu quả thực tế. Sức sống của một hình thức kinh tế mà chúng ta lựa chọn phải là ở chỗ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quan hệ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa. Làm như thế thì công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa chẳng những có sự cần thiết khách quan, mà nó còn được diễn ra một cách có hiệu quả bằng những bước đi thích hợp.

   Việc tìm ra các hình thức liên kết giữa các thành phần trong thời kỳ quá độ là rất cần thiết. Có thể liên kết giữa một cơ sở quốc doanh với một cơ sở kinh tế tập thể, liên kết giữa một cơ sở quốc doanh hoặc hợp tác xã với những "vệ tinh" tư nhân, thậm chí liên kết giữa quốc doanh, tập thể và tư nhân. Tất cả đều nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, và đều được tổ chức dưới sự hướng dẫn của nhà nước chuyên chính vô sản, theo pháp luật và theo sự chỉ huy tập trung thống nhất của nhà nước chuyên chính vô sản. Đây là một bộ phận của vấn đề sử dụng sức mạnh tổng hợp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 

   Trong khi tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, vấn đề cải tạo thị trường luôn luôn là một vấn đề nóng bỏng. Thị trưởng là tổng thể các quan hệ thực hiện hàng hóa. Nó làm cho toàn bộ quan hệ sản xuất trong điều kiện kinh tế hàng hóa được nổi lên trên bề mặt của đời sống xã hội. Trong thời kỳ quá độ, nó là một trong những mắt xích chung nhất giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, về thị trường ở nước ta hiện nay, đúng như Nghị quyết 3 của Trung ương (khóa V) nhận định: "Đây vừa là khâu trung tâm của lĩnh vực phân lưu thông, vừa là mũi nhọn trong cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề "ai thắng ai" trên mặt trận kinh tế". Trong cuộc đấu tranh ấy, thị trường có tổ chức phải giữ vai trò chủ đạo, và nhà nước phải dùng sức mạnh tổng hợp của cả hành chính, kinh tế, giáo dục, để sử dụng, hạn chế, cải tạo có hiệu quả thị trường tự do. Tốt nhất, chúng ta đưa ra một danh mục mặt hàng phân công kinh doanh giữa các thành phần kinh tế. Từ đó mà nhà nước chuyên chính vô sản luôn luôn chủ động trong việc tổ chức, kiểm kê, kiểm soát thị trường. Mọi quan hệ trên thị trường sẽ diễn ra rõ ràng, hợp pháp và sẽ lành mạnh hóa dần dần trong thời kỳ quá độ.

   Trong khi tiến hành quản lý thị trường trong thời kỳ quá độ của một đất nước sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta hãy ghi nhớ lời dạy của V. I. Lênin: "Thời kỳ đấu tranh lâu dài và bền bỉ giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản với thế lực tự phát nguy hại của tính phóng túng và tính vô chính phủ tiểu tư sản, – đó là tóm tắt những đặc điểm nổi bật của giai đoạn đặc biệt của cách mạng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang trải qua" (8). Và chúng ta thừa biết rằng: "Cơ sở kinh tế của tệ đầu cơ là tầng lớp những kẻ tiểu tư hữu vô cùng rộng rãi ở nước Nga và chủ nghĩa tu bản tư nhân, có đại diện của mình trong mỗi người tiểu tư sản" (9)

   Những hình thức kinh tế quá độ càng đặc biệt quan trọng đối với nước ta – một nước mà đa số dân cư là nông dân với cả quả khứ tư hữu nhỏ nặng nề. Bằng những hình thức kinh tế quá độ, giai cấp công nhân sẽ bắc được những nhịp cầu nhỏ để dẫn dắt nông dân đi từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Chính hoàn cảnh của Việt Nam ta ngày nay càng có thể và càng cần phải thực hiện lời chỉ dẫn của V.I. Lênin: "Không nghi ngờ gì nữa, ở một nước trong đó những người sản xuất – tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển trong đó công nhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số dân cư" (10)

   Một hình thức kinh tế quá độ đúng nghĩa, tự nó đã bao hàm việc sử dụng đi đôi với cải tạo thành phần không xã hội chủ nghĩa. Ở đây có mối liên hệ biện chứng giữa sử dụng và cải tạo. Muốn sử dụng một thành phần không xã hội chủ nghĩa nào đấy thì phải cải tạo, cải tạo để sử dụng, sử dụng để cải tạo, cải tạo bằng cách sử dụng, sử dụng bằng cách cải tạo. Trong khi sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, phải luôn luôn phản ánh đúng bản chất của quá trình vận động của nền kinh tế quá độ là phát huy tác dụng, củng cố và phát triển thành phần xã hội chủ nghĩa đồng thời với việc hạn chế, đẩy lùi dần, đi đến xóa bỏ hẳn thành phần không xã hội chủ nghĩa. Sự quá khích hoặc sự lừng chừng, do dự hoặc sự dao động ngả nghiêng đều trái với xu thế tiến bộ xã hội khách quan. Xu thế tiến bộ xã hội khách quan đó ở nước ta hiện nay là bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Con đường này đòi hỏi phải tuân theo những quá trình kinh tế có tính quy luật để chuyển biển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

   Nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa không chỉ có đặc trưng về mặt lực lượng sản xuất mà còn có cả đặc trưng về mặt quan hệ sản xuất. Vì vậy, Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng đã xác định một trong bốn mục tiêu kinh tế – xã hội của chặng đường hiện nay là: "Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền nam; tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền bắc. Củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước" (11). Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa diễn ra tốt đẹp với những hình thức và bước đi thích hợp thì nó sẽ góp phần to lớn làm cho con đường bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá độ thẳng lên chủ nghĩa xã hội sớm trở thành hiện thực trên đất nước ta.

___

Chú thích: 
(1). V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t. 43, tr. 248.
(2). V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 39, tr. 309-310.
(3), (4). V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 37, tr. 264, 438.
(5), (6). V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t. 43, tr. 290, 427-428.
(7). Xem V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 36, tr. 217.
(8). Xem V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, t. 36, tr. 254.
(9). V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t. 43, tr. 249-250.
(10). Sách đã dẫn, tr. 68-69.
(11). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, t. I, tr. 54.

Nguồn: "Một số vấn đề về thời kỳ quá độ ở Việt Nam", NXB Sự Thật, 1983

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chủ nghĩa Mác về ngôn ngữ học - Stalin

Sự thật về kinh tế tập thể và khoán sản phẩm ở Trung Quốc

Lenin: Phương pháp Tay-lo là phương pháp dùng máy móc nô dịch con người